Thế nào là phạm tội tham ô tài sản nghiêm trọng theo quy định hiện hành?

Trong những năm gần đây; Đảng và Nhà nước ta đã xác định tham ô tài sản là một trong những nguy cơ; đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ ta. Tham ô tài sản dẫn đến nhiều hệ lụy; làm biến chất, tha hóa tư tưởng của một số cán bộ, đảng viên; làm mất lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Để khắc phục tình trạng này, BLHS năm 2015 và các văn bản pháp luật khác có liên quan; đã có những quy định cụ thể về đặc điểm, dấu hiệu pháp lý của tội tham ô tài sản theo hướng dẫn; khung hình phạt đối với loại tội phạm này. Vậy để nhận diện được tội tham ô tài sản nghiêm trọng, pháp luật nước ta đã quy định về dấu hiệu pháp lý thế nào? Bài viế dưới đây của LVN Group với chủ đề Thế nào là phạm tội tham ô tài sản nghiêm trọng theo hướng dẫn hiện hành? sẽ trả lời câu hỏi cho bạn đọc về vấn đề này.

Thế nào là phạm tội tham ô tài sản nghiêm trọng theo hướng dẫn hiện hành?

1. Tội tham ô tài sản đặc biệt nghiêm trọng nghĩa là gì?

Theo quy định tại Điều 353 BLHS năm 2015: “Tội tham ô tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến hoạt động đúng đắn và sở hữu của đơn vị, tổ chức do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện bằng hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý”.

Theo đó, tội tham ô tài sản đặc biệt nghiêm trọng là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội đặc biệt nghiêm trọng, gây tổn hại lớn về tài sản, vật chất, xâm phạm đặc biệt nghiêm trọng đến hoạt động đúng đắn và sở hữu của đơn vị, tổ chức do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện bằng hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý”.

2. Dấu hiệu pháp lý của tội tham ô tài sản nghiêm trọng

Khách thể của tội tham ô tài sản nghiêm trọng

Khách thể là một trong những dấu hiệu pháp lý của tội tham ô tài sản nghiêm trọng. Khách thể này được quy định như sau:

Khách thể của tội tham ô tài sản nghiêm trọng là hoạt động đúng đắn của đơn vị; tổ chức và sở hữu của đơn vị, tổ chức đó.

Hoạt động đúng đắn của đơn vị, tổ chức là những hoạt động theo chức năng; nhiệm vụ do pháp luật hoặc do điều lệ, quy chế, quy định những hoạt động này; nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; tôn chỉ mục đích của đơn vị, tổ chức phù hợp với Hiến pháp và pháp luật Việt Nam.

Những hoạt động không đúng đắn của đơn vị, tổ chức bị xâm phạm do tội phạm tham ô tài sản gây ra; đó là những quy định của pháp luật, của điều lệ, quy chế; hoặc phải thực hiện mà không thực hiện; buộc phải làm mà không làm, cấm không được làm thì lại làm.

Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động của các đơn vị, tổ chức có thể phân ra thành hai nhóm:

  • Nhóm các đơn vị, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực chính trị – xã hội. Bao gồm: Các đơn vị nhà nước; tổ chức chính trị; các tổ chức chính trị – xã hội; các tổ chức xã hội nghề nghiệp.
  • Nhóm các tổ chức kinh tế gồm: các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế ngoài nhà nước và doanh nghiệp; tổ chức thuộc khu vực ngoài nhà nước.

Mặt khách quan của tội tham ô tài sản nghiêm trọng

Mặt khách quan của tội tham ô tài sản nghiêm trọng bao gồm các dấu hiệu sau:

  • Dấu hiệu hành vi khách quan của tội tham ô tài sản nghiêm trọng hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn lợi dụng chức vụ; quyền hạn chiếm đoạt tài sản là hành vi cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang thuộc sự quản lý của chủ tài sản thành tài sản của mình. Hành vi chiếm đoạt tài sản của người có chúc vụ, quyền hạn trái với nhiệm vụ được giao.
  • Hành vi chiếm đoạt tài sản và thủ đoạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn có mối quan hệ mật thiết với nhau; thủ đoạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong quản lý tài sản tạo điều kiện cho hành vi chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý.
  • Hậu quả qủa tội phạm: theo hướng dẫn tại Điều 353 BLHS năm 2015; người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý từ hai triệu đồng trở lên thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Chủ thể của tội tham ô tài sản nghiêm trọng

Chủ thể của tội tham ô tài sản nghiêm trọng là con người cụ thể đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong tình trạng có năng lực trách nhiệm hình sự; đạt đủ độ tuổi theo hướng dẫn của pháp luật. Chủ thể của tội tham ô tài sản thỏa mãn hai dấu hiệu:

  • Về dấu hiệu chung: là người có năng lực trách nhiệm hình sự; đạt đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo hướng dẫn pháp luật.
  • Về dấu hiệu chủ thể đặc biệt: là người có chức vụ, quyền hạn trong quản lý tài sản.
Mặt chủ quan của tội tham ô tài sản nghiêm trọng
Mặt chủ quan của tội phạm bao gồm các yếu tố: lỗi, động cơ, mục đích.
Điều 10 BLHS năm 2015 quy định cụ thể về lỗi cố ý trực tiếp đối với tội tham ô tài sản. Tham ô tài sản là tội phạm có tính chất chiếm đoạt; lỗi của chủ thể là lỗi cố ý trực tiếp.
Mục đích: người tham ô phạm tội nhằm mục đích vụ lợi. Mục đích vụ lợi được người phạm tội xác định và hướng tới trước và trong khi thực hiện hành vi phạm tội; với mong muốn chiếm đoạt được tài sản của đơn vị, tổ chức giao cho mình nhiệm vụ quản lý về tài sản riêng của mình.
Bạn đọc có thể cân nhắc thêm nội dung trình bày: Tội tham ô tài sản bộ luật hình sự 2017.

4. Xử phạt về tội tham ô tài sản đặc biệt nghiêm trọng

Xử lý Tội tham ô tài sản theo cấu thành tội phạm tăng nặng thứ ba (khoản 4 Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015).
Người phạm tội tham ô tài sản thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.
  • Chiếm đoạt tài sản trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên: Trường hợp phạm tội này cũng tương tự như trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều 353 BLHS năm 2015, chỉ khác là tài sản bị chiếm đoạt trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên.
Nếu tài sản bị chiếm đoạt không phải là tiền mà là tài sản thì giá trị tài sản được xác định căn cứ vào giá thị trường vào thời gian phạm tội, vì trách nhiệm hình sự là trách nhiệm của một người khi thực hiện hành vi phạm tội. Trong trường hợp các đơn vị tiến hành tố tụng không tự mình xác định được giá trị tài sản thì phải trưng cầu giám định (định giá).
  • Gây tổn hại về tài sản 5.000.000.000 đồng trở lên: Là trường hợp ngoài hành vi tham ô tài sản (thỏa mãn 01 trong 03 trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 353 BLHS năm 2015), người phạm tội tham ô tài sản còn gây tổn hại (khác) về tài sản 5.000.000.000 đồng trở lên.
Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội tham ô tài sản theo khoản 4 Điều 353 BLHS năm 2015, Toà án cần căn cứ vào các quy định về quyết định hình phạt tại Chương VIII BLHS năm 2015 (từ Điều 50 đến Điều 59).
Nếu người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015, không có tình tiết tăng nặng, thì Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật (từ 15 năm tù đến dưới 20 năm tù). Nếu người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể thì Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật (dưới 15 năm tù).
Xem thêm: Bình luận tội tham ô tài sản.
https://lvngroup.vn/binh-luan-toi-tham-o-tai-san/

5. Các câu hỏi thường gặp

Người có chức vụ được hiểu thế nào?
Theo Khoản 2 Điều 352 BLHS năm 2015 quy định: “Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng; hoặc do một cách thức khác có hưởng lương; hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định; có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ”.
Ví dụ về tội tham ô tài sản nghiêm trọng 
Giám đốc của một công ty lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chỉ đạo chuyên viên của mình (kế toán và thủ quỹ) lập khống chứng từ để quyết toán hợp đồng kinh tế rút tiền gần 02 tỉ đồng. Sau đó, Giám đốc chia cho thủ quỹ, kế toán mỗi người 100 triệu đồng, số tiền còn lại sử dụng cho mục đích cá nhân.
https://lvngroup.vn/toi-tham-o-tai-san/

SOẠN HỢP ĐỒNG, ĐƠN, VĂN BẢN THEO YÊU CẦU CHỈ 500.000đ

--- Gọi ngay 1900.0191 ---

(Tư vấn Miễn phí - Hỗ trợ 24/7)

Công ty Luật LVN - Địa chỉ: Số 16B Nguyễn Thái Học, Yết Kiêu, Hà Đông, Hà Nội, Việt Nam

Gmail: luatlvn@gmail.com