Trợ giúp xã hội là gì? 2023

Dưới góc độ lịch sử, trợ giúp xã hội có từ khi xuất hiện loài người và tồn tại dưới nhiều hình thức rất phong phú trong xã hội cận đại và hiện đại.

Trong cuộc sống, không phải lúc nào con người cũng gặp những thuận lợi, may mắn mà ngược lại luôn bị đe doạ trước những biến cố, rủi ro, bất hạnh… vì nhiều nguyên nhân khác nhau. Khi rơi vào những tình huống như vậy, nhu cầu khắc phục khó khăn, đảm bảo cuộc sống, vươn lên hoà nhập cộng đồng trở thành cấp thiết và mang tính nhân đạo sâu sắc. Có thể nói trợ giúp xã hội là biện pháp tương trợ cộng đồng đầu tiên mà con người tìm đến để giúp nhau vượt qua những tình huống khó khăn. Đây là hình thức tương trợ cộng đồng đơn giản, phổ biến và giữ vai trò quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội mỗi quốc gia. Trợ giúp xã hội là gì?

Khái niệm trợ giúp xã hội

Dưới góc độ lịch sử, trợ giúp xã hội có từ khi xuất hiện loài người và tồn tại dưới nhiều hình thức rất phong phú trong xã hội cận đại và hiện đại.

Thời kỳ đầu, khi chưa có sự phân công lao động, phân phối sản phẩm xã hội còn mang tính bình quân thì khi một thành viên gặp rủi ro, bất hạnh… họ được những thành viên khác của cộng đồng hỗ trợ, cưu mang.

Lúc này sự tương trợ cộng đồng chỉ mang tính tự phát, theo bản năng và được thực hiện ở phạm vi hẹp như trong gia đình, thôn xóm, họ hàng… Cùng với sự phát triển kinh tế, trợ giúp xã hội dần phát triển với các hình thức có tính tổ chức cao hơn được thực hiện bởi các phường hội, nhà thờ, nhà chùa… 

Khi nhà nước ra đời, hoạt động trợ giúp được mở rộng và có sự tham gia của nhà nước. Bên cạnh những hình thức mang tính truyền thống như từ thiện, phát chẩn, cứu đói… thì sự can thiệp của nhà nước đối với bộ phận người yếu thế” trong xã hội như một sự đảm bảo có tính ổn định hơn, trợ giúp xã hội trở thành chính sách xã hội quan trọng của nhiều quốc gia.

Cũng dưới góc độ lịch sử ra đời, người ta cho rằng trợ giúp xã hội chính là hình thức khởi đầu để tiến tới hình thành hệ thống an sinh xã hội.

Trên thế giới, hầu hết các nước đều thiết lập hệ thống an sinh xã hội với một trong các bộ phận cơ bản hợp thành là trợ giúp xã hội, có chăng chỉ là sự khác nhau về phạm vi đối tượng bảo vệ, mức độ đảm bảo và sự đa dạng trong cách thức thực hiện mà thôi.

Cũng từ đó, các quốc gia có thể đưa ra những khái niệm khác nhau về trợ giúp xã hội dựa trên những đặc điểm riêng, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, phong tục tập quán… của mình.

Do vậy, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) cũng không đưa ra khái niệm chuẩn về trợ giúp xã hội mà chỉ để cập thông qua những quy chuẩn tối thiểu của hệ thống an sinh xã hội và đưa ra những đặc trưng cơ bản của trợ giúp xã hội để nhận diện khi so sánh với các nội dung khác của hệ thông an sinh xã hội như: 

– Đối tượng trợ giúp xã hội là mọi người dân không có sự phân biệt theo tiêu chí nào khi gặp phải những rủi ro biến cố cần sự giúp đỡ. 

– Không đặt ra nghĩa vụ đóng góp tài chính cho việc thụ hưởng các khoản trợ cấp xã hội, nhà nước có trách nhiệm đảm bảo từ tài chính công để chi trả cho đối tượng. 

– Các khoản trợ cấp xã hội nhằm duy trì cuộc sống cho đối tượng và được xác định trên cơ sở mức độ rủi ro và nhu cầu trợ giúp, không phụ thuộc vào tiền lương, thu nhập.

Thực tế, mặc dù có những điểm khác nhau nhất định trong khái niệm trợ giúp xã hội ở một số quốc gia song hầu hết các nước đều thống nhất cho rằng trợ giúp xã hội là hình thức tương trợ cộng đồng đơn giản, phổ biến nhất được thực hiện bởi Nhà nước, cộng đồng nhằm đảm bảo cuộc sống cho mọi thành viên xã hội khi lâm vào tình trạng khó khăn, bất hạnh… vì các nguyên nhân khác nhau. 

– Ở Việt Nam, mặc dù trợ giúp xã hội đã được thực hiện từ rất lâu với vai trò quan trọng của Nhà nước nhưng cho đến nay vẫn chưa có định nghĩa chính thức về trợ giúp xã hội trong các văn bản pháp luật.

Theo cách hiểu thông thường, trợ giúp xã hội là “sự giúp đỡ thêm bằng tiền, hoặc các điều kiện sinh sống thích hợp để đối tượng được giúp đỡ có thể phát huy khả năng tự lo liệu cuộc sống cho mình hoặc gia đình, sớm hoà nhập với cộng đồng”

Cùng nghĩa với thuật ngữ “trợ giúp xã hội”, thuật ngữ “cứu trợ xã hội” hay “cứu tế xã hội” cũng thường được dùng để chỉ nội dung này song thực tiễn cũng có sự khác nhau nhất định.

Thuật ngữ “cứu trợ xã hội là thuật ngữ sử dụng khá phổ biến và được đề cập trong nhiều văn bản pháp luật. Theo Từ điển tiếng Việt, “cứu trợ xã hội” là “giúp cho qua khỏi cơn nguy khốn”(3) hoặc “giúp cho qua khỏi cơn nghèo ngặt”. 

Đối tượng cứu trợ xã hội chính là những người bị suy giảm mức thu nhập do sức khoẻ yếu như người già, người tàn tật không có nguồn sống ổn định, người mất hay thiếu phần lớn phương tiện sinh sống… Đây cũng chính là nhóm đối tượng của trợ giúp xã hội.

Sử dụng thuật ngữ cứu trợ xã hội thể hiện nhiều hơn tính cấp thiết, tức thời của hoạt động này và mang nặng ý nghĩa nhân đạo Trên thực tế, đa số hoạt động cứu trợ xã hội thường là trợ giúp xã hội, do vậy nhiều khi chúng được hiểu đồng nghĩa với nhau.

Tuy nhiên, trợ giúp xã hội có phạm vi rộng hơn, bao gồm cả hoạt động cứu tế xã hội. Về cơ bản, thuật ngữ “trợ giúp xã hội” và “cứu trợ xã hội” đều chỉ một nội dung nhưng xét dưới góc độ quyền cơ bản của con người thì thuật ngữ “cứu trợ xã hội” ít thể hiện yếu tố nhân quyền gắn với trách nhiệm của nhà nước mà chú trọng tới sự cứu giúp, ban ơn. Với cùng một nội dung, việc lựa chọn thuật ngữ phù hợp thể hiện được nhân quyền, thể hiện được thái độ của nhà nước đối với bộ phận cư dân yếu thế trở thành yêu cầu khiến thuật ngữ “trợ giúp xã hội” trở thành thuật ngữ chính thức trong văn bản pháp luật hiện hành về lĩnh vực này. 

Với thuật ngữ “cứu tế xã hội”, Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam định nghĩa là “sự giúp đỡ bằng tiền hoặc hiện vật có tinh cấp thiết, “cấp cứu” ở mức độ cần thiết cho những người lâm vào cảnh bần cùng không có khả năng tự lo liệu cuộc sống thường ngày của bản thân và gia đình”.

Như vậy có thể thấy tính “cấp cứu”, “cấp thiết” là đặc trưng của cứu tế xã hội với mục đích giúp đối tượng thoát ngay khỏi tình trạng nguy kịch, hiểm nghèo. Đối tượng cứu tế xã hội là những người với những nguyên nhân rủi ro, bất hạnh khác nhau dẫn đến cuộc sống bị đe doạ nghiêm trọng, không có sự cứu tế thì bản thân hoặc gia đình có thể bị nguy hại đến cuộc sống thậm chí có thể dẫn đến cái chết (chết đói, chết rét, chết bệnh…).

Chính vì nhiều nguyên nhân rủi ro khác nhau và nhu cầu giúp đỡ của đối tượng là đa dạng nên hình thức thực hiện cứu tế ở đây rất linh hoạt và phong phú với sự tham gia của đông đảo tổ chức tôn giáo, tổ chức nhân đạo, các cá nhân, cộng đồng dân chúng và phụ thuộc nhiều vào tình huống cụ thể. Hoạt động cứu tế xã hội cũng là một trong những nội dung của trợ giúp xã hội, với tính tức thời, cấp thiết và trong nhiều trường hợp cứu tế bằng hiện vật có ý nghĩa thiết thực hơn so với bằng tiền.

Tóm lại, dựa trên những quan điểm chung của ILO và riêng Việt Nam, có thể hiểu trợ giúp xã hội là sự giúp đỡ của Nhà nước, xã hội và cộng đồng bằng những biện pháp và các hình thức khác nhau đối với các đối tượng bị lâm vào cảnh rủi ro, bất hạnh, nghèo đói… vì nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến không đủ khả năng tự lo liệu được cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình nhằm giúp họ tránh được mối đe doạ của cuộc sống thường nhật hoặc giúp họ vượt qua những khó khăn, ổn định cuộc sống và hoà nhập cộng đồng.

– Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của trợ giúp xã hội, hầu hết các nước đều tổ chức thực hiện trợ giúp xã hội bằng cách xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện phù hợp với các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, phong tục tập quán… của mình.

Theo tổng kết của ILO trong các tài liệu về an sinh xã hội, trong số 172 nước thiết lập hệ thống an sinh xã hội thì ở quốc gia nào chế độ trợ giúp xã hội đều được quan tâm thực hiện ngay từ đầu.

Ở Mỹ, sự ra đời của Đạo luật an sinh xã hội năm 1935 cũng gắn liền với áp lực của nhu cầu trợ giúp xã hội với thực trạng đói nghèo trong đời sống của nhóm người yếu thế như phụ nữ, trẻ em, người già…

Ở các nước châu Âu và đặc biệt là các nước kinh tế phát triển, việc quy định và thực hiện trợ giúp xã hội đã được xác định rõ ràng như một trong những điều kiện đảm bảo sự phát triển bền vững của quốc gia, công bằng xã hội. Thậm chí, một số nước (Pháp, Thụy Điển, Đức…) còn xác định trợ giúp xã hội cho những người nghèo nhất chính là trọng tâm và mục tiêu chủ đạo của an sinh xã hội.

Do đặc điểm riêng của Việt Nam về vị trí địa lý, điều kiện kinh tế-xã hội, phong tục tập quán, lịch sử chiến tranh… chính sách trợ giúp xã hội trở thành chính sách quan trọng, thể hiện đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta đối với một bộ phận người gặp khó khăn trong xã hội.

Thể chế hoá chính sách xã hội mang đậm tính nhân đạo này, tuỳ thuộc vào các giai đoạn khác nhau của điều kiện kinh tế-xã hội, Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp luật quy định cụ thể chế độ trợ giúp xã hội với phạm vi đối tượng, điều kiện hưởng, mức hưởng… và tổ chức thực hiện.

Do vậy, dưới góc độ pháp luật, có thể hiểu chế độ trợ giúp xã hội là tổng thể các quy phạm pháp luật có quan hệ chặt chẽ với nhau, xác định quyền và nghĩa vụ của Nhà nước, tổ chức và cá nhân trong việc hỗ trợ về vật chất và tinh thần cho các thành viên trong xã hội khi bị lâm vào hoàn cảnh bất hạnh, rủi ro, nghèo đói… không đủ khả năng đảm bảo cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình. 

– Về đối tượng, trong hệ thống pháp luật an sinh xã hội, mỗi bộ phận khác nhau có đối tượng áp dụng khác nhau với những điều kiện khác nhau.

Nếu đối tượng của nhánh ưu đãi xã hội là những người có công với cách mạng, đối tượng của bảo hiểm xã hội là người lao động và đối tượng của bảo hiểm y tế là toàn bộ dân chúng thì đối tượng của trợ giúp xã hội là mọi người dân trong xã hội không phân biệt vị thế và thành phần xã hội khi gặp phải gặp khó khăn, thiếu thốn, lâm nạn, cơ nhỡ… vì nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến cuộc sống thường ngày hoặc lâu dài của họ bị đe dọa.

Dưới góc độ kinh tế, đây là những thành viên có mức sống thấp hơn mức sống tối thiểu của xã hội hoặc gặp khó khăn, rủi ro cần có sự nâng đỡ về vật chất.

Dưới góc độ xã hội, phần lớn đối tượng trợ giúp xã hội thuộc nhóm người yếu thế trong xã hội, với những nguyên nhân khác nhau mà bị rơi vào vị thế bất lợi, thiệt thòi, ít có cơ may trong cuộc sống như người bình thường khác và không đủ khả năng tự lo liệu, đảm bảo cho cuộc sống bản thân và gia đình.

Căn cứ vào độ tuổi, dạng tật, nguyên nhân túng quẫn… mà hình thành một hay nhiều nhóm đối tượng như người tàn tật, người già cô đơn không nơi nương tựa, trẻ mồ côi không người nuôi dưỡng, người lang thang, người bị hậu quả do thiên tại địch hoạ, người đói nghèo…

Ngoài ra, dưới góc độ nhân đạo, những người không may rơi vào tệ nạn xã hội như nghiện hút, tiêm chích ma tuý, mại dâm, lang thang xin ăn… cũng là đối tượng cần có sự trợ giúp để vượt qua hoàn cảnh khó khăn, đảm bảo cuộc sống bình thường như những thành viên khác trong xã hội.

Cũng chính vì phạm vi đối tượng trợ giúp xã hội như vậy nên có thể nói trợ giúp xã hội thể hiện tính bao quát nhất đối với các thành viên xã hội và mang đậm nét nhân đạo trong toàn bộ hệ thống các chế độ an sinh xã hội quốc gia.

– Tham gia vào quan hệ trợ giúp xã hội không chỉ bao gồm Nhà nước và đối tượng được trợ giúp mà còn bao gồm các chủ thể khác như tổ chức, cá nhân trong hoạt động chung mang tính nhân đạo này.

Xuất phát từ bản chất là một nội dung thuộc phạm trù xã hội, do vậy tính cộng đồng được thể hiện rất rõ nét trong việc tạo nguồn lực và thực hiện chế độ trợ giúp xã hội Với tư cách là một chủ thể trong quan hệ trợ giúp xã hội, Nhà nước cũng xác định nghĩa vụ của mình và mối quan hệ hợp tác giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân,… trong hoạt động trợ giúp xã hội.

Theo pháp luật Việt Nam, vấn đề tổ chức thực hiện trợ giúp xã hội không chỉ đơn giản là trách nhiệm của Nhà nước với cơ quan đại diện là Bộ lao động-thương binh và xã hội và chính quyền địa phương mà còn là trách nhiệm của nhiều bộ, ngành như Bộ y tế, Bộ giáo dục đào tạo, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn và toàn thể các thành viên xã hội… 

Đối với đối tượng trợ giúp, khi xem xét về quyền và nghĩa vụ chủ thể cho thấy nghĩa vụ đóng góp đảm bảo điều kiện hưởng thụ không được đặt ra.

Trong khi đó, ở các chế độ khác trong hệ thống an ninh, đối tượng hưởng phải có sự đóng góp nhất định, có thể là bằng tiền từ lao động, sản xuất (bảo hiểm xã hội) hoặc là cả sự hy sinh tính mạng, sức khoẻ, tuổi trẻ… cho sự độc lập, bình yên của đất nước (ưu đãi xã hội). Với chế độ trợ giúp, các yếu tố hoàn cảnh cá nhân, tình trạng tài sản và nhu cầu thực tế của đối tượng tại thời điểm phát sinh nhu cầu trợ giúp là các yếu tố cơ bản để quy định chế độ hưởng trợ cấp xã hội mà không gắn với bất kỳ khoản đóng góp vật chất, tinh thần nào.

Đây cũng là nét đặc biệt khi xem xét về quyền, nghĩa vụ chủ thể trong chế độ trợ giúp xã hội so với các chế độ khác trong hệ thống an ninh. 

Về nội dung, chế độ trợ giúp xã hội có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau. Nếu căn cứ vào phạm vi đối tượng sẽ có chế độ trợ giúp xã hội đối với từng nhóm cụ thể như người già cô đơn không nơi nương tựa, người tàn tật, trẻ em mồ côi, cá nhân và hộ gia đình bị thiên tai…

Với mỗi nhóm đối tượng khác nhau có những đặc điểm, nhu cầu trợ giúp khác nhau từ đó có chế độ hưởng linh hoạt, phù hợp với đối tượng. Nếu căn cứ vào tính ổn định hay nhất thời của trợ cấp sẽ có chế độ trợ cấp thường xuyên và chế độ trợ cấp đột xuất.

Chế độ trợ cấp thường xuyên có tính ổn định, lâu dài hơn (có thể trong khoảng thời gian nhất định hoặc cho đến hết cuộc đời của đối tượng nếu đối tượng không vượt qua được hoàn cảnh). Chế độ trợ cấp đột xuất có tính nhất thời, được thực hiện một lần và với các hình thức đa dạng, linh hoạt hơn, phụ thuộc vào từng tình huống với nhu cầu cụ thể.

Nếu căn cứ vào hình thức của chế độ trợ giúp sẽ có trợ giúp xã hội về vật chất với các khoản tiền trợ cấp, phương tiện sinh sống… và trợ giúp xã hội về tinh thần bằng các hoạt động tư vấn sức khoẻ, tâm lý, giáo dục, hướng nghiệp…

Theo quy định của pháp luật hiện hành, chế độ trợ giúp xã hội bao gồm hai nội dung chính là chế độ trợ giúp xã hội thường xuyên và chế độ trợ giúp xã hội đột xuất. Với tính đa dạng về đối tượng và linh hoạt về hình thức trợ giúp, việc phân loại này chỉ có ý nghĩa đưa ra mức hưởng và hình thức trợ giúp phù hợp với từng nhóm đối tượng mà thôi.

Trên thực tế, đối tượng trợ giúp xã hội đột xuất có thể bao gồm cả đối tượng trợ giúp xã hội thường xuyên và ngược lại. Việc không loại trừ phạm vi đối tượng bảo vệ này không chỉ đặt ra với chế độ trợ giúp xã hội mà còn được thể hiện trong tất cả các chế độ khác của hệ thống an sinh xã hội nhằm đưa đến sự bảo vệ toàn diện nhất cho cộng đồng dân chúng.

Do vậy, có thể thấy trên thực tế một đối tượng có thể được hưởng tất cả các chế độ trợ cấp trong hệ thống an sinh xã hội nếu thoả mãn điều kiện hưởng của các chế độ trợ cấp đó. 

Mục đích của trợ cấp, trợ giúp xã hội không nhằm bù đắp thu nhập thường xuyên bị giảm hoặc mất như trong trợ cấp bảo hiểm xã hội hay chi trả chi phí y tế khi người bệnh cần dịch vụ trong bảo hiểm y tế hay đảm bảo ổn định đời sống, suy tôn công trạng, đền ơn đáp nghĩa những người có công trong ưu đãi xã hội mà chỉ hỗ trợ, giúp đỡ cho những người lâm vào tình trạng thực sự khó khăn, túng quẫn, cần có sự giúp đỡ về vật chất mới có thể vượt qua được hoàn cảnh hiện tại.

Do vậy, mức hưởng trợ cấp xã hội không căn cứ vào tiền lương mà căn cứ vào mức sống tối thiểu xã hội, nhìn chung là thấp và linh hoạt, phụ thuộc rất nhiều vào khả năng tài chính của Nhà nước, | khả năng huy động nguồn lực, nguyên nhân rủi ro và tình trạng thực tế của đối tượng. 

Ngoài hai chế độ trợ giúp xã hội thường xuyên và đột xuất, phạm vi rộng, hoạt động trợ giúp xã hội cũng được thực hiện với các chương trình xoá đói giảm nghèo, chăm sóc sức khoẻ toàn dân, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, nâng đỡ người lầm lỡ mắc tệ nạn xã hội… 

Ý nghĩa của chế độ trợ giúp xã hội 

Ngay từ khi ra đời, an sinh xã hội nói chung và trợ giúp xã hội nói riêng đã được đón nhận như một sự đảm bảo cho cuộc sống và đặc biệt có ý nghĩa đối với một bộ phận thành viên xã hội, bộ phận người yếu thế.

Là sự bảo vệ phổ cập và đồng nhất đối với mọi thành viên xã hội trên cơ sở sự tương trợ cộng đông, chia sẻ rủi ro, trợ giúp xã hội là hoạt động mang đậm tính nhân đạo, có ý nghĩa kinh tế, chính trị xã hội và pháp luật. 

– Dưới góc độ kinh tế, trợ giúp xã hội không vì mục đích kinh doanh, lợi nhuận nhưng lại có ý nghĩa là công cụ phân phối lại tiền bạc, của cải và dịch vụ có lợi cho các thành viên bất hạnh của xã hội, thu hẹp dần sự chênh lệch mức sống, giảm bớt bần cùng, nghèo đói.

Ở khía cạnh này, trợ giúp xã hội chính là biện pháp thúc đẩy phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội. Với mỗi thành viên xã hội nói chung và đối tượng trợ giúp nói riêng, trợ cấp xã hội đặc biệt có ý nghĩa trong việc đảm bảo sự tồn tại và tạo cơ hội vượt qua những khó khăn, túng quẫn về kinh tế.

Đối tượng trợ giúp xã hội là những người có mức sống thấp hơn mức sống tối thiểu của xã hội, các yêu cầu tối thiểu về kinh tế như ăn, mặc, chi phí chữa bệnh… không được đảm bảo. Tình trạng này có thể diễn ra trong khoảng thời gian dài, cũng có thể nhất thời với những hoàn cảnh nhất định.

Những yêu cầu tối thiểu về kinh tế này đã vượt ra khỏi khả năng đảm bảo thực tế của đối tượng, nếu không có trợ cấp xã hội họ không thể duy trì được mức sống tối thiểu, không tự giải quyết nổi những bất hạnh và có nguy cơ không trụ được trong cuộc sống.

Trong tình thế đó, các khoản trợ cấp xã hội chính là “lưới đỡ kinh tế cuối cùng về miếng cơm manh áo hàng ngày cho đối tượng. Không dừng lại ở đó, chế độ trợ giúp xã hội còn đưa đến những cơ hội thuận lợi để đối tượng tự vươn lên đảm bảo và nâng cao đời sống.

Tuy nhiên, cũng phải nhận thức rằng trợ giúp xã hội không loại trừ được nghèo túng, bất hạnh, rủi ro… nhưng là biện pháp kinh tế góp phần đẩy lùi nghèo túng, khắc phục rủi ro, thúc đẩy tiến bộ xã hội. 

– Dưới góc độ chính trị xã hội, trợ giúp xã hội đặc biệt có ý nghĩa. Đây không chỉ là thái độ của Nhà nước, là biện pháp hỗ trợ tích cực của xã hội đối với mỗi thành viên của mình khi gặp rủi ro, khó khăn mà còn làm giảm thiểu những bất ổn trong xã hội, góp phần duy trì ổn định xã hội trong đó có ổn định chính trị.

Sở dĩ có ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc xuất phát từ chỗ nền tảng của trợ giúp xã hội là sự hợp tác, tương trợ cộng đồng của các thành viên xã hội trước những bất hạnh, rủi ro của mỗi cá nhân.

Theo đó, những khó khăn, bất hạnh này được cả cộng đồng gánh vác, sẻ chia mà không đòi hỏi một nghĩa vụ nào về tài chính từ phía đối tượng. Ở đây không có sự phân biệt về đối tượng hưởng cũng như chủ thể thực hiện mà hơn thế nữa lại là yếu tố tạo nên sự hoà đồng giữa các thành viên xã hội không phân biệt giới tính, tôn giáo, địa vị kinh tế…

Có thể nói, trợ giúp xã hội là hình thức tương trợ cộng đồng phổ biến nhất, thể hiện tính nhân văn sâu sắc của mỗi cá nhân và có sức hút hấp dẫn trước những giá trị nhân bản của con người. 

Với mỗi nhà nước, sự tồn tại của bộ phận người yếu thế và thái độ của Nhà nước đối với họ cũng là khía cạnh thể hiện bản chất nhà nước.

Ngược lại, một xã hội muốn phát triển bền vững phải đảm bảo được sự bình ổn về chính trị, xã hội. Xét cho cùng nguyên nhân của những bất ổn xã hội cũng từ nguồn gốc của sự đói nghèo và suy thoái về đạo đức.

Khi các nhu cầu thiết yếu của con người không được bảo đảm rất dễ dẫn đến phẩm giá và nhân cách của họ không được bảo đảm, xã hội sẽ trở thành bất ổn, thiếu an toàn. Lúc này, trợ giúp xã hội đóng vai trò là chiếc “van an toàn” thu hẹp dần khoảng cách giữa các tầng lớp dân cư, điều tiết trật tự xã hội, hạn chế từ gốc rễ những bất ổn xã hội, từ đó bình ổn chính trị. 

Ngày nay, trợ giúp xã hội không còn là vấn đề chính trị, xã hội của mỗi quốc gia mà đã trở thành vấn đề có tính quốc tế. Việc thực hiện trợ giúp xã hội không bị giới hạn bởi bất kỳ rào cản chính trị hay địa lý nào, nó có ý nghĩa toàn cầu vì một thế giới hoà bình, ổn định và phát triển hơn. 

– Dưới góc độ pháp luật, trợ giúp xã hội là một chế định quan trọng trong hệ thống pháp luật an sinh xã hội, điều chỉnh việc trợ giúp vật chất và tinh thần cho nhóm đối tượng có vị thế bất lợi, thiệt thòi, ít có cơ may trong cuộc sống như người bình thường khác và không đủ khả năng tự lo liệu, đảm bảo cho cuộc sống bản thân và gia đình.

Ý nghĩa pháp luật của trợ giúp xã hội xuất phát từ quyền cơ bản của con người. Mỗi con người sống trong xã hội đều có quyền được sống, được bình đăng, được thương yêu, đùm bọc, che chắn bảo vệ trước những biến cố bất lợi, đặc biệt là khi sự sống bị đe doạ.

Quyền này đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền của Liên hợp quốc ngày 10/12/1948: “Mọi người đều có quyền hưởng một 1ức sống đủ đâm bảo sức khoẻ và nhu yếu của mình cùng gia đình nhất là về ăn uống, nhà ở, thuốc men...” (Điều 22).

Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của mình, các quốc gia đều luật hoá ở mức độ khác nhau để tổ chức thực hiện.

Ở Việt Nam, quyền trợ giúp xã hội đã được ghi nhận trong Hiến pháp (Điều 67) và nhiều văn bản pháp luật khác. Điều đó cho thấy trợ giúp xã hội không chỉ đơn thuần là hoạt động tự phát mang tính nhân đạo của cộng đồng mà dưới góc độ pháp luật, nó đã được luật hoá, trở thành chế định của hệ thống pháp luật an sinh xã hội quốc gia.

Cũng từ đó, phải nhận thức rằng trợ giúp xã hội không phải là sự ban ơn, sự chiếu cố của xã hội đối với những thân phận thấp hèn, những người cùng cực mà là quyền của mỗi thành viên xã hội, là trách nhiệm, nghĩa vụ của cả cộng đồng. 

SOẠN HỢP ĐỒNG, ĐƠN, VĂN BẢN THEO YÊU CẦU CHỈ 500.000đ

--- Gọi ngay 1900.0191 ---

(Tư vấn Miễn phí - Hỗ trợ 24/7)

Công ty Luật LVN - Địa chỉ: Số 16B Nguyễn Thái Học, Yết Kiêu, Hà Đông, Hà Nội, Việt Nam

Gmail: luatlvn@gmail.com