Sự khác biệt và tương đồng điển hình trong đào tạo Luật ở Anh và Mỹ

Sự khác biệt và tương đồng điển hình trong đào tạo pháp Luật ở Anh và Mỹ.

Common law – một trong hai dòng họ pháp luật lớn nhất trên thế giới được bắt nguồn và áp dụng trên lãnh thổ Anh, sau đó xuất hiện tại Mỹ qua con đường bành trướng thuộc địa. Tuy nhiên, do đặc trưng là quốc gia đa tôn giáo, sắc tộc, văn hóa; cơ cấu lãnh thổ được chia thành nhiều tiểu bang khiến Mỹ đã và đang có sự phát triển hệ thống pháp luật mang bản sắc của riêng mình. 

Đào tạo luật là một thành tố quan trọng trong sự phát triển hệ thống pháp luật cũng như phổ biến, giáo dục pháp luật tại mỗi quốc gia. Điều đó đồng nghĩa với nhu cầu tìm hiểu và so sánh đào tạo luật giữa các hệ thống pháp luật rất lớn và cần thiết không chỉ với nhà lập pháp, nghiên cứu pháp luật mà còn với luật sư, học sinh, sinh viên… 

Về mục tiêu, nhằm tìm hiểu các nét tương đồng và khác biệt có tính đặc trưng về đào tạo luật ở Anh và Mỹ, bài tiểu luận sẽ khái quát chung về đào tạo luật ở Anh và Mỹ, từ đó có cơ sở nhằm nêu bật những điểm tương đồng và khác biệt đặc trưng trong đào tạo luật tại hai quốc gia này trước khi trình bày các kết luận của nhóm tác giả. 

Về phương pháp nghiên cứu, để đạt được mục tiêu đề ra, nhóm tác giả sử dụng phương pháp so sánh, phân tích, đánh giá, đi từ tổng quan tới chi tiết nhằm nêu bật những đặc điểm mang tính đặc trưng cần tìm.

1. Khái quát về đào tạo luật ở Anh và Mỹ 

1.1.Đào tạo luật tại Anh

Ở Anh, đào tạo luật phân tách rõ giữa các giai đoạn học thuật, dạy nghề và đào tạo chuyển tiếp. Nghề luật sư được phân biệt cụ thể theo hướng tư vấn và tranh tụng tụng đã ảnh hưởng trực tiếp mục tiêu, phương pháp, chương trình đào tạo luật. Trong khi đó, việc đào tạo thẩm phán tiến hành thông qua khóa học chính quy để đào tạo ra các thẩm phán mới và thông qua các khóa học bổ túc để phát triển kĩ năng nghề nghiệp và kiến thức cho các thẩm phán đang hành nghề. Thông thường, con đường trở thành thẩm phán phải xuất phát từ luật sư tranh tụng. 

Đào tạo cử nhân luật ở Anh được nhìn nhận có phần nhẹ hơn so với nhiều nước khác ở Châu Âu. Đào tạo cử nhân luật là quá trình đào tạo ở bậc đại học do các khoa luật của các trường đại học thực nhiệm; còn đào tạo nghề diễn ra ở bậc sau đại học và thuộc chức năng của cơ sở đào tạo được cấp phép bởi Đoàn luật sư và bởi Hội luật gia.

1.2.Đào tạo luật tại Mỹ 

Ở Mỹ, điều kiện tiên quyết là người học luật đã hoàn thành một chương trình cử nhân do đào tạo luật là đào tạo sau đại học. Yêu cầu trên nhằm tạo nền tảng để tiếp thu các kiến thức pháp lý trong từng chuyên ngành hẹp. Ví dụ, người muốn hành nghề luật sư trong lĩnh vực kinh doanh thường có bằng cử nhân về thương mại hoặc quản trị kinh doanh. 

Sau khi hoàn thành chương trình J.D, người học phải vượt qua kỳ thi do đoàn luật sư của mỗi bang tổ chức để có thể hành nghề luật. Nhìn chung, đào tạo luật ở Mỹ đòi hỏi người học phải có vốn kiến thức tương đối trên nhiều lĩnh vực trước khi nghiên cứu chuyên sâu pháp luật. Những quy định khắt khe về đào tạo luật đã tạo ra những thế hệ thẩm phán, luật sư có trình độ năng lực cao, tham gia và đóng góp quan trọng trong đời sống xã hội Hoa Kỳ nói riêng và thế giới nói chung. 

2. Điểm tương đồng đặc trưng trong đào tạo luật ở Anh và Mỹ

2.1.Vai trò quan trọng của án lệ trong đào tạo luật

Là một trong những thành tố tiêu biểu của Common law, án lệ là nguồn luật được ưu tiên áp dụng và bị chi phối ít nhiều bởi học thuyết tiền lệ pháp. Từ đó, giảng dạy luật thông qua các nghiên cứu án lệ là một đặc trưng trong đào tạo luật tại hai quốc gia này. Tại Anh, đặc biệt trong giai đoạn đào tạo cử nhân, nghiên cứu án lệ được xem như một phần không thể thiếu ở các trường luật. Giai đoạn sau đại học, việc giảng dạy theo vụ việc diễn ra theo một hình thức khác, thiết thực hơn qua vụ việc giả định, phiên tòa giả định, buổi tham vấn hoặc đàm phán. Cuối cùng, trong thời gian đào tạo thực hành, học viên sẽ bắt đầu làm việc trên các vụ việc thực tế và được giám sát của các luật sư giàu kinh nghiệm. Sự tồn tại của giai đoạn đào tạo khác biệt này chứng minh một cá nhân ngay cả khi đã hoàn thành cử nhân cần phải tiếp tục tiếp cận, nghiên cứu và thật sự hiểu các vụ việc thực tế.2 Còn ở Mỹ, giảng dạy theo án lệ đã trở thành nền tảng trong đào tạo luật. “Phương pháp vụ việc” do Christopher Columbus Langdell sáng tạo và tiên phong áp dụng khi làm Hiệu trưởng Trường Luật Harvard vào cuối thế kỉ 19 được mô tả là “phương pháp sư phạm đặc trưng” trong các trường luật Hoa Kỳ3, tiếp tục được duy trì và hoàn thiện đến ngày nay. 

2.2.Tuyển sinh đầu vào 

Đào tạo luật có uy tín và vị trí quan trọng trong giáo dục ở Anh và Mỹ khi góp tạo ra nhiều thế hệ chính trị gia, lãnh đạo của công ty, tập đoàn hàng đầu, các luật sư nổi tiếng toàn cầu nhờ quy trình tuyển chọn học viên vô cùng khắt khe, gồm những cá nhân ưu tú và xuất sắc. Ở Mỹ, các khoa luật đều đặt ra tiêu chuẩn khá cao, nhiều trường hợp chỉ chọn được một sinh viên trong số năm hoặc mười người dự tuyển.4 Thông thường, điểm GPA đầu vào trung bình các trường luật nổi tiếng như Yale, Harvard, UC Berkeley phải đạt mức xuất sắc (từ 3.6 trở lên). Bên cạnh đó, kỳ thi chuẩn hóa LSAT về các kỹ năng về lập luận, phân tích logic, viết luận được sử dụng nhằm tìm kiếm những học viên có năng lực, tiềm năng nhất. 

Ở Anh, dù đào tạo luật được thực hiện ngay sau khi tốt nghiệp phổ thông nhưng yêu cầu đầu vào vẫn rất cao và khắt khe. “Kỳ thi Năng khiếu Quốc gia về Luật” (LNAT) được tổ chức nhằm đánh giá kiến thức cũng như khả năng lập luận, đánh giá, kết luận của ứng viên. Nhờ đó, các trường luật sẽ tìm kiếm được những người có năng lực và phù hợp nhất để tham gia học luật. 

2.3.Chi phí và thời gian đào tạo 

Điểm tương đồng đào tạo luật tại Anh và Mỹ không chỉ đặc trưng bởi những yếu tố học thuật mà còn bởi chi phí tốn kém. Dù có học bổng hoặc các khoản vay từ Hội đồng Hỗ trợ của các cơ sở đào tạo nhưng gánh nặng về chi phí vẫn còn rất lớn. Tại Anh, mức học phí tuy có sự khác nhau giữa sinh viên bản địa và sinh viên quốc tế, nhưng trung bình từ 12000-18000 bảng/năm. Con số này ở Hoa Kỳ thậm chí còn lớn hơn, đặc biệt tại các trường luật hàng đầu, con số hàng năm không thấp hơn 50000 USD. Tổng thể, thời gian để một người có đủ khả năng hành nghề luật trung bình từ 06-07 năm, đòi hỏi sự kiên trì, chăm chỉ và năng lực học thuật để đáp ứng lượng kiến thức khổng lồ luật trong thời gian tương đối dài. 

3. Điểm khác biệt đặc trưng trong đào tạo luật ở Anh và Mỹ 

3.1.Lịch sử phát triển và ý tưởng về việc đào tạo luật 

Ở Anh hình thức đào tạo luật trong các trường dòng do các đoàn luật sư tổ chức (Inns of Court) xuất hiện từ thế kỷ 13 thông qua việc học viên quan sát các quy trình tố tụng tại Tòa và các cuộc tranh luận cũng như phiên tòa giả định. Những cơ sở dạy nghề này giúp học viên được học trực tiếp qua thực hành với những luật sư có kinh nghiệm. Đến khi các trường dòng dần mất vị trí (trường dòng xuất hiện và thoái trào từ thế kỉ 13-17), chế độ học nghề (Chế độ học nghề (apprenticeship): Bộ luật Anh 1729 (Act for the Better Regulation of Attorneys and Solicitors) yêu cầu một người phải dành 05 năm tại các văn phòng luật trước khi chính thức hành nghề đã khiến cho chế độ học nghề dần đánh mất vị trí do tính chất nhàm chán, thụ động. Cho đến cuối thế kỉ 18, mô hình đào tạo này cũng đã tồn tại ở Mỹ khi cá nhân có nguyện vọng học luật sẽ liên hệ với một luật sư và làm việc họ. Học viên được hướng dẫn lý thuyết pháp lý và kỹ năng hành nghề để trở thành luật sư) nổi lên thế chỗ. Do vậy, phải mất gần hai thế kỷ (từ giữa thế kỉ 17-19), đào tạo luật tại các trường đại học mới có chỗ đứng (trước đó tại đại học đã giảng dạy về luật La Mã, nhưng Common law không thuộc phạm vi giảng dạy vì sự tồn tại của trường dòng). Chế độ học nghề và trường dòng tuy giờ đây mất vị thế độc tôn nhưng vẫn tồn tại trong tư tưởng người Anh, tác động tới việc ngày nay đào tạo luật tại đại học chủ yếu cung cấp khoa học, tri thức mang tính hàn lâm, còn kỹ năng thực hành được “dành lại” vào giai đoạn sau đại học. 

Còn tại Mỹ, chế độ học nghề đã từng phổ biến khi chế độ thuộc địa tồn tại. Nhưng vào cuối thế kỉ 18, các luật sư độc lập hoặc các nhóm luật sư nhỏ bắt đầu mở các trường luật của họ. Tiếp đó, đầu thế kỉ 19, các trường đại học bắt đầu thuê giáo sư luật và mở các khoa luật. Luật được giảng dạy giống như lịch sử và kinh tế, và nghiên cứu về pháp luật tập trung vào học thuyết và lý thuyết pháp lý. Bắt đầu từ cuối thế kỉ 19 đến đầu thế kỉ 20, ngày càng nhiều người chọn đào tạo luật tại cơ sở đại học. Hiệp hội luật sư Mỹ (ABA) ra đời đã tiếp tục thúc đẩy vị trí đào tạo luật tại đại học và những nghiên cứu của tổ chức này sau này đã góp phần xây dựng mô hình đào tạo luật ba năm phổ biến tại Hoa Kỳ. Thay vì chỉ nghiên cứu, giảng dạy học thuyết và lý thuyết pháp lý, đến cuối những năm 1950, nội dung thực tiễn bắt đầu được tích hợp vào chương trình giảng dạy tại hầu hết các trường luật. Yêu cầu về kỳ thi chuẩn hóa được áp dụng bắt buộc và vẫn duy trì tới nay. 

Có thể thấy, không giống như đào tạo luật tại Anh vốn dựa vào trường dòng qua hàng thế kỷ, lịch sử đào tạo luật tại Hoa Kỳ tuy ‘trẻ hơn’ nhưng phát triển rất nhanh chóng. Điều này dẫn tới tại Anh khi mô hình đào tạo luật bậc đại học xuất hiện không hoàn toàn triệt tiêu mô hình đào tạo cũ qua việc trường dòng vẫn tồn tại tới tận ngày nay. Trong khi ở Mỹ đã hình thành mô hình đào tạo luật riêng, khác biệt cơ bản với ở Anh. 

3.2.Mục tiêu đào tạo 

Tại Anh, đào tạo luật hướng tới hai cấp độ mục tiêu: (1) trang bị kiến thức khoa học pháp lý (academic) cho người học, họ sẽ được cấp bằng cử nhân luật sau khi kết thúc khóa học; (2) dạy nghề, với mục tiêu này người học sẽ được cấp chứng chỉ hành nghề luật.6 Như vậy xuất hiện sự phân tách rõ ràng về mục tiêu riêng khi bậc đại học tập trung đào tạo học thuyết và lý thuyết pháp lý, còn kiến thức phục vụ hành nghề luật sẽ được giảng dạy sau khi người học kết thúc bậc cử nhân. Không chỉ vậy, đào tạo luật còn phân biệt giữa đào tạo luật sư tranh tụng và luật sư tư vấn – một đặc trưng cơ bản trong đào tạo luật tại Anh. Đây là hệ quả của việc tồn tại đồng thời luật sư tranh tụng và luật sư tư vấn trong hệ thống pháp luật. 

Trong đào tạo luật ở Mỹ, mô hình đào tạo luật sư tư vấn và tranh tụng không tồn tại như ở Anh mà kết hợp hai mô hình trên vào một. Xu hướng kết hợp giữa đào tạo lý thuyết và đào tạo nghề để trang bị tới học viện đầy đủ kiến thức lẫn kỹ năng, qua đó nhanh chóng tham gia hành nghề luật sau khi tốt nghiệp. Ngoài ra do mỗi bang tại Mỹ có hệ thống pháp luật riêng nên mục tiêu đào tạo luật từng bang có những khác biệt, trong khi tại Anh không có yêu cầu về phạm vi, lãnh thổ như vậy. 

3.3.Tuyển sinh đầu vào 

Tuy cùng có quy trình tuyển chọn khắt khe, nhưng mỗi quốc gia vẫn có đặc trưng riêng. Tại Anh, do đào tạo luật xuất hiện từ bậc cử nhân nên ứng viên phải trải qua “Kỳ thi Năng khiếu Quốc gia về Luật” (LNAT). Bài thi này gồm 2 phần, phần A trả lời các câu hỏi trắc nghiệm; phần B tự luận, ứng viên phải thể hiện khả năng lập luận và kết luận về một loạt các vấn đề có chủ đề khác nhau.7 Nhiều trường luật còn yêu cầu phỏng vấn nhằm tạo điều kiện với ứng viên dù không có điểm số ấn tượng vẫn có cơ hội học luật ở Anh.8 

Tại Mỹ, ứng viên cần hoàn thành chương trình cử nhân trước đó và trải qua “Kỳ thi tuyển sinh trường luật” (LSAT). Bài kiểm tra gồm 5 phần bao gồm trắc nghiệm và tự luận. Đó là Lập luận logic 1&2, Lập luận phân tích, Đọc hiểu theo hình thức trắc nghiệm; và phần Viết luận.9 So số lượng ứng viên hàng năm rất đông, bộ phận tuyển sinh của các trường không phỏng vấn như ở Anh mà họ xem xét các yếu tố khác như điểm GPA đại học, lĩnh vực học đại học hay bài luận, cũng như “động lực, khả năng lãnh đạo, kinh nghiệm làm việc hoặc hoạt động ngoại khóa, nền tảng gia đình, văn hóa và cộng đồng…” của ứng viên để đưa ra quyết định10 nhưng điểm GPA đại học và điểm LSAT vẫn thường được quan tâm chủ yếu. Do đó, ứng viên thường học cử nhân về tiếng Anh, lịch sử hoặc khoa học chính trị để đạt điểm cao nhất có thế. Từ các số liệu thực tế11 chứng minh đầu vào trường luật tại Mỹ mang tính cạnh tranh cực cao, bao gồm việc đặt nặng vấn đề điểm LSAT và GPA có phần cứng nhắc hơn so với yêu cầu ở Anh. 

3.4.Bậc học và thời gian đào tạo 

Tại Anh, quy trình từ bậc học đại học (undergrad) – đào tạo cử nhân luật (có thời gian đào tạo là 03 năm tại trường đại học) đến đào tạo nghề luật – bậc sau đại học (postgrad), trong thời gian đó ứng viên có thể lựa chọn đào tạo luật sư tư vấn (thời gian đào tạo 01 năm và 02 năm thực tập) hoặc luật sư tranh tụng (thời gian đào tạo 01 năm và 01 năm thực tập). Sau thời gian đó mới được xem xét cấp giấy phép hành nghề. Trung bình, thời gian hoàn tất quy trình đào tạo luật này kéo dài từ 05 đến 06 năm. Tại Mỹ, sinh viên luật phải hoàn thành ít nhất một chương trình đại học Những người này khi trúng tuyển sẽ theo học 03 năm tại khoa luật để lấy bằng J.D.12 Do đào tạo nghề lồng ghép trong thời gian bằng đó ứng viên sau khi tốt nghiệp có thể tham gia kỳ thi cấp giấy phép hành nghề luật sư. Như vậy, tổng thế ứng viên phải dành 6-7 năm, gồm trung bình 3-4 năm cử nhân và 3 năm học luật. Điều này dẫn đến độ tuổi trung bình cho tốt nghiệp sinh khoa luật ở Mỹ là 29.13 

3.5.Vấn đề thi cử và bằng cấp 

Ở Anh, sau khi tốt nghiệp đại học, cá nhân có bằng cử nhân luật L.L.B, từ đây họ có thể lựa chọn để trở thành luật sư tư vấn hay luật sư tranh tụng. Tùy thuộc vào quyết định của mình, ứng viên tham gia những khóa học riêng biệt để hành nghề. Để trở thành luật sư tranh tụng, họ phải vượt qua Bar Professional Training Course và tương tự Solicitors Qualifying Examination (SQE)14 nếu muốn trở thành luật sư tư vấn. Sau khi có được chứng chỉ BPTC hoặc SQE và tham dự đủ 12 buổi bắt buộc tại trường dòng (Inns of Court), ứng viên mới được công nhận năng lực tranh tụng (tương tự với luật sư tư vấn). Sau thời gian thực tập mới được Đoàn luật sư/Hội luật gia) cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư tranh tụng/tư vấn. 

Để trở thành luật sư ở Anh, không nhất thiết phải có bằng cử nhân luật. Những trường hợp này có thể là: có bằng đại học ở ngành khác, không có bằng đại học hoặc là sinh viên, luật sư nước ngoài. Họ có thể tham gia các khóa học và bài thi theo từng trường hợp để có đủ tư cách tham gia chế độ học nghề và thực tập sau đại học như một cử nhân luật bình thường tại Anh, ví dụ như những người đã có bằng đại học trái ngành sẽ tham gia khóa học 1 năm để vượt qua kỳ thi sát hạch nghề phổ thông (CPE) hoặc lấy bằng Diploma về luật (GDL), hoặc các luật sư nước ngoài có thể tham gia Chương trình Chuyển giao Luật sư Đủ điều kiện (QLTS)… Khác với ở Mỹ, nơi một tấm bằng về luật là điều kiện bắt buộc nếu muốn hành nghề luật sư.

Ở Mỹ, sinh viên sau khi tốt nghiệp được gọi là – Juris Doctor/Doctor of Jurisprudence (J.D) – bằng học thuật cấp độ đầu tiên của ngành luật. Bằng J.D. là một đặc trưng của đào tạo luật tại Mỹ, do số giờ học để đạt được bằng này nhiều hơn đáng kể với thời gian một người phải học để đạt được bằng cử nhân ở các ngành khác, do vậy nó không còn được gọi là LL.B(Trước những năm 60, các trường luật ở Mỹ vẫn cấp bằng cử nhân LL.B cho các sinh viên tốt nghiệp.16 MBE, MEE hay MPT được đưa ra và gợi ý bởi Hội đồng Quốc gia về Giám định luật sư (NCBE). Hầu hết các bang đều sử dụng các thành phần bài thi này để tạo thành bài kiểm tra bar của mình, nhưng vẫn có các bang tự tạo ra và tổ chức bài thi của riêng mình ví dụ như California và Pennsylvania) và nó và cũng không tương đương bằng cử nhân luật ở các nước khác. Đối với cá nhân được đào tạo luật bên ngoài nước Mỹ phải hoàn thành chương trình thạc sĩ Master of Laws (LL.M) trong 1 năm hoặc theo học 3 năm cho bằng J.D để được tham dự kỳ hành nghề luật sư. Bằng luật cao nhất ở Mỹ là bằng tiến sĩ – Doctor of Juridical Science (J.S.D)/Doctor of Laws (LL.D), với điều kiện đã hoàn thành LL.M. Bằng S.J.D tương đương Ph.D ở châu Âu và các nước khác xong thưởng chỉ là bằng danh dự, không cấp cho nghiên cứu sinh mà chỉ dành cho người có đóng góp lớn cho nền khoa học pháp lý. 

Để trở thành luật sư sau khi tốt nghiệp J.D., ứng viên phải vượt qua kỳ thi kiểm tra năng lực tại tiểu bang nơi đăng ký dự thi. Đây là kỳ thi thách thức để chọn ra những người có năng lực hành nghề thực sự. Kỳ thi gồm ít nhất 2 phần: phần thi khách quan để kiểm tra kiến thức cơ bản trong các vấn đề nền tảng như hợp đồng, tài sản, vi phạm dân sự, luật tố tụng và luật hiến pháp; phần thi viết bài luận về các chủ đề. Trong kỳ thi, các loại bài thi thường được kết hợp sử dụng tùy theo từng bang, bao gồm Bài kiểm tra trắc nghiệm 200 câu (Multistate Bar Examination (MBE)); Bài luận (Multistate Essay Examination (MEE)) và Bài kiểm tra khả năng thực tiễn (Multistate Performance Test (MPT) thực hiện các công việc tiêu chuẩn của một người luật sư như viết memo hoặc tóm tắt.16 

3.6.Chương trình và phương pháp đào tạo 

Ở Mỹ, chương trình đào tạo luật chính quy để trở thành luật sư đơn giản chỉ có chương trình đào tạo cho bằng J.D, còn lại, việc đi thực tập không là một yêu cầu bắt buộc hoặc chương trình ôn tập cho bar exam (được gọi là bar review) cũng chỉ là tùy chọn, miễn là họ thi qua được bar exam. Năm đầu tiên của trường luật là năm học được đánh giá quan trọng nhất cho sự nghiệp một người muốn hành nghề luật sau này, bởi nó có thể quyết định nơi họ sẽ làm việc khi tốt nghiệp. Nguyên nhân cho điều này là vì chương trình phỏng vấn trong khuôn viên trường (OCI) thường diễn ra vào đầu năm thứ hai và tại thời điểm này, nhà tuyển dụng chỉ có thể có được GPA của năm đầu tiên. Đây là một bước được thực hiện khá sớm, cho thấy được môi trường năng động, cạnh tranh cao ở các trường luật Mỹ ngay từ năm học đầu tiên và cũng cho thấy rằng các cá nhân học luật được “săn đón” từ rất sớm kể cả khi họ chưa tốt nghiệp và có bằng J.D. 

Bên cạnh để áp dụng các vụ việc, án lệ vào giảng dạy, phương pháp tình huống “Socratic” do Trường luật Harvard khởi xướng được áp dụng tại hầu hết tất cả các trường luật.17 Đó là quá trình hỏi đáp, tranh luận liên tục giữa giảng viên và sinh viên xung quanh các vụ việc điển hình. Các câu hỏi xoay quanh tình tiết cơ bản, câu hỏi pháp lý, quy định pháp luật, lập luận của nguyên đơn, bị đơn, tòa cũng như bình luận về cách giải quyết của tòa. Các nguyên tắc pháp lý không được trình bày trực tiếp mà được tổng kết từ thảo luận tình huống. Điều này giúp sinh viên không chỉ tiếp xúc với các quy định mà còn làm quen thực tiễn, học hỏi được kỹ năng phân tích, lập luận của các bên và tòa án, nắm được trình tự tố tụng của vụ án, rèn luyện phản xạ nhanh nhạy, tư duy phản biện, phê phán, nhìn nhận vấn đề một cách đa chiều. Điều này rất phù hợp với môi trường pháp luật có sự thay đổi nhanh chóng như tại Mỹ 

Trong khi đó, tại Anh, đào tạo luật chủ yếu dưới dạng bài giảng và hướng dẫn. Giảng viên thường phác thảo vấn đề theo trật tự, giải thích sự phức tạp và cố gắng liên hệ với tình huống thực tế. Sinh viên được khuyến khích tham gia vào buổi thảo luận và diễn án để rèn luyện kĩ năng lập luận rõ ràng và thuyết phục. Trong giai đoạn đào tạo luật bậc cử nhân, sinh viên phải hoàn thành 6 môn học “cốt lõi” bao gồm: Luật Hiến pháp và Hành chính, Luật Hình sự, Hợp đồng, Luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Luật Đất đai và Công bằng, và Luật Tín thác. Tuy án lệ vẫn đóng vai trò trung tâm, nhưng với xu hướng pháp điển hóa mạnh mẽ hiện nay, luật thành văn cũng là một phần quan trọng được đưa vào chương trình đào tạo để nghiên cứu, thảo luận. Đào tạo luật tại bậc đại học tuy không dạy sinh viên tất cả các kỹ năng cần thiết để hành nghề luật nhưng họ vẫn được dạy về kỹ năng và đạo đức hành nghề luật sư.

Đối với đào tạo luật sư tranh tụng, khóa học tại trường dòng (Inns of Court) chủ yếu tập trung việc học quy tắc về bằng chứng, soạn thảo lời biện hộ và hoàn thiện kỹ năng biện hộ. 

Như vậy ở Anh, sinh viên cần nắm vững các quy định pháp luật, các học thuyết pháp lý rồi mới được đào tạo về kỹ năng hành nghề. Điều này dẫn tới khác biệt cơ bản khi tại Mỹ sinh viên được dạy để đủ khả năng tự liên kết, tìm ra quy luật, quy tắc từ những tình huống thực tiễn (và cả giả định), từ đó 02 phần kiến thức lý thuyết và thực hành đều được đào tạo đồng thời mà vẫn đảm bảo chất lượng. 

Trên cơ sở nghiên cứu, so sánh, đánh giá, tiểu luận thu được một số kết quả như sau: 

Thứ nhất, đào tạo luật tại Anh và Mỹ vừa có những tương đồng và khác biệt điển hình do tuy cùng chung hệ thống luật Common Law nhưng mỗi bên có mô hình đào tạo luật của riêng mình 

Thứ hai, những điểm tương đồng nổi bật bao gồm vai trò quan trọng của án lệ trong đào tạo luật, tuyển sinh đầu vào khắt khe, kĩ càng và chi phí đào tạo luật tốn kém Thứ ba, những điểm khác biệt nổi bật để phân biệt đào tạo nghề giữa Anh và Mỹ có thể kể đến lịch sử đào tạo luật, mục đích của đào tạo luật, phương pháp và chương trình đào tạo, vấn đề về bằng cấp.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1) Đại học luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật so sánh, NXB Công an nhân dân. 

2) Nguyễn Bích Thảo (2016), Một số kinh nghiệm đào tạo Luật ở Mỹ và gợi mở cho Việt Nam, tham luận tại Hội thảo về đổi mới đào tạo và nghiên cứu Luật, Khoa Luật, ĐHQGHN. 

3) Mac Sithigh, D., & Siems, M. (2017). Why Do We Do What We Do? Comparing Legal Methods in Five Law Schools Through Survey Evidence trong Rethinking Legal Scholarship: A Transatlantic Dialogue (pp. 31-83). Cambridge University Press. 

4) Byse (1986), Fifty Years of Legal Education, 71 IowA L. REV. 

5) Diamond (1985), Lawyer Competency and Bar Admissions, The Role of the Law School and the Role of the Profession, trong Legal education in the United Kingdom and the United States: An overview 2. 

6) Rodrigo Sadi (2017-2018), Legal Education and the Civil Law System, 62 N.Y.L. SCH. L. REV. 165. 

7) Fletcher, Roland (2016). Legal education and proposed regulation of the legal profession in England and Wales: a transformation or a tragedy?, Law Teacher, 50(3) pp. 371–385. 

8) Tạp chí Loyola of Los Angeles International and Comparative Law Review số 13 (2/1/1991), Legal Education in the United States and England: A Comparative Analysis


TỔNG ĐÀI LUẬT SƯ 1900 0191 - GIẢI ĐÁP PHÁP LUẬT TRỰC TUYẾN MIỄN PHÍ MỌI LÚC MỌI NƠI
Tài liệu trên là tài sản của Công ty Luật LVN, chỉ được sử dụng để tham khảo, việc tự áp dụng trong mọi trường hợp sẽ dẫn đến hậu quả không mong muốn.
Để có được lời khuyên pháp lý an toàn nhất, vui lòng liên hệ Luật sư (Miễn phí 24/7) số: 1900.0191 để gặp Luật sư, Chuyên viên tư vấn pháp luật.

Bộ phận tư vấn pháp luật

Đánh giá các quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 về lao động giúp việc gia đình

Bình luận, đánh giá các quy định về lao động giúp việc gia đình trong Bộ luật Lao động sửa đổ bổ sung năm 2019.

Báo cáo mới của Tổ chức lao động thế giới (ILO) ngày 15/6/2021 về người  lao động giúp việc gia đình đã đưa ra dữ liệu cho thấy hiện nay trên thế giới có 75,6  triệu lao động giúp việc gia đình (4.5% người lao động)1. Một con số tỷ lệ đáng kể trong lực lượng lao động xã hội, lao động giúp việc gia đình đã, đang và sẽ có những đóng góp quan  trọng đối với sự phát triển kinh tế- xã hội toàn cầu. Tuy nhiên trên thực tế lao động giúp việc gia đình vẫn bị đánh giá thấp, bị coi là lao động có trình độ kém, hầu như không  được quan tâm dẫn đến bị phân biệt đối xử về điều kiện làm việc và dễ bị lạm dụng  nhân quyền.

1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH

1.1. Khái niệm lao động giúp việc gia đình

Định nghĩa đầu tiên về lao động giúp việc gia đình được Tổ chức lao động  quốc tế đưa ra năm 1951. Theo đó, nhiều quốc gia trên thế giới cũng đưa ra định nghĩa về loại hình lao động này. Để thống nhất cách hiểu chung và ghi nhận những  đóng góp quan trọng của lao động giúp việc gia đình thì ngày 16/6/2011, ILO đã  thông qua Công ước số 189 về việc làm bền vững cho lao động giúp việc gia đình. Theo đó, “ người lao động giúp việc gia đình (domestic worker) là bất kỳ người  nào thực hiện công việc trông gia đình có quan hệ việc làm; một người chỉ thực hiện công việc trong gia đình theo dịp hoặc không thường xuyên và không có tính chất nghề nghiệp thì không phải là người lao động giúp việc gia đình”.  

Ở Việt Nam, BLLĐ 2012 đã quy định cụ thể đầu tiên về lao động giúp việc gia đình, song  BLLĐ 2019 vẫn giữ nguyên khái niệm tại điều 161 như sau: “Lao động là người giúp việc gia đình là người lao động làm thường xuyên các công việc trong gia  đình của một hoặc nhiều hộ gia đình. 

Các công việc trong gia đình bao gồm công việc nội trợ, quản gia, chăm sóc trẻ em, chăm sóc người bệnh, chăm sóc người già, lái xe, làm vườn và các công việc khác cho hộ gia đình nhưng không liên quan đến hoạt động thương mại”. 

1.2 Đặc điểm của lao động giúp việc gia đình

– Lao động giúp việc gia đình thực hiện thường xuyên các công việc trong gia đình: đây có thể  coi là nét đặc trưng của loại hình lao động này vì công việc của họ được lặp đi lặp  lại mỗi ngày (nấu ăn, trông trẻ, lau dọn nhà cửa,…). 

– lao động giúp việc gia đình làm việc trong môi trường khép kín, đơn lẻ: bởi những nét đặc  thù của công việc, các lao động giúp việc gia đình rất ít có sự giao lưu với bên ngoài, không tham  gia các tổ chức đoàn thể nên dễ phải đối mặt với các nguy cơ: mắng chửi, đánh đập,  đe dọa, lạm dụng tình dục,… 

– lao động giúp việc gia đình chủ yếu là lao động nữ và có trình độ học vấn thấp: theo dữ liệu  của ILO mới ngày 15/6/2021 vừa qua thì trên thế giới, có khoảng 57,7 triệu phụ nữ  làm giúp việc, chiếm 76,2% tổng số lao động giúp việc gia đình, chiếm phần lớn  lực lượng lao động ở châu Âu, Trung Á và châu Mỹ. Ở Việt Nam, phụ nữ làm giúp  việc chiếm 90%, tiếp đó là những công việc chăm sóc, bảo mẫu chiếm 6,6%2.  lao động giúp việc gia đình phần lớn là nhữn người có trình độ học vấn thấp, chưa được đào tạo chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp.

1.3 Vai trò của lao động giúp việc gia đình 

Thứ nhất, vai trò đối với chính lao động giúp việc gia đình: có việc làm, tạo thu nhập ổn định,  đảm bảo chi tiêu và góp phần cải thiện cuộc sống cho gia đình và địa phương.  Ngoài ra, thu nhập của người lao động từ giúp việc gia đình còn là nguồn tiết kiệm,  tích lũy, phòng tránh rủi ro xảy ra. 

Thứ hai, vai trò đối với NSDLĐ sử dụng lao động giúp việc gia đình: được san sẻ những gánh  nặng về công việc gia đình, từ đó chuyên tâm thực hiện công việc, tạo ra thu nhập  cao hơn. Mặt khác, lao động giúp việc gia đình còn là giải pháp hiệu quả trong việc chăm sóc tốt  cho các thành viên trong gia đình, ưu việt hơn so với dịch vụ như nhà trẻ, viện  dưỡng lão,.. 

Thứ ba, vai trò đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước: khi thu nhập  của NLĐ và NSDLĐ tăng cao sẽ góp phần ổn định đời sống xã hội, đây cũng là  một trong những điều kiện thúc đẩy kinh tế phát triển, bảo đảm an sinh xã hội của  đất nước. 

2. ĐÁNH GIÁ PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ LAO  ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH 

2.1 Pháp luật về hợp đồng lao động đối với lao động giúp việc gia đình 

ILO và đa số các quốc gia trên thế giới đã thừa nhận GVGĐ là một nghề,  người làm nghề GVGĐ là một người lao động được bình đẳng như những người  lao động khác. Như vậy, cần có một hình thức pháp lý để xác lập quan hệ lao động  giữa lao động giúp việc gia đình và NSDLĐ. HĐLĐ là hình thức pháp lý BLLĐ 2019 quy định bắt  buộc đối với lao động giúp việc gia đình.  

2.1.1 Chủ thể giao kết hợp đồng lao động 

Chủ thể giao kết HĐLĐ GVGĐ là người lao động giúp việc gia đình và người sử dụng lao  động. Trong đó, người từ đủ 18 tuổi trở lên được quyền trực tiếp ký HĐLĐ, người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi được quyền ký kết HĐLĐ nhưng phải có sự đồng ý  bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật.  

Có thể thấy, pháp luật lao động đã rộng mở cơ hội cho phép trẻ em từ đủ 15  tuổi trở lên có thể làm công việc GVGĐ nếu công việc đó nhẹ nhàng, phù hợp với  lứa tuổi, thời gian làm việc không vượt quá thời gian pháp luật quy định. Tuy  nhiên, điểm hạn chế là độ tuổi dưới 18 là người chưa có kinh nghiệm và kỹ năng  sống, ứng phó với các tình huống dẫn đến dễ bị xâm hại, đặc biệt phần lớn lao động giúp việc gia đình lại là nữ. Một số liệu khảo sát tại TP. Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh cho  biết có tới 17,3% lao động giúp việc gia đình bắt đầu từ độ tuổi dưới 18.  

2.1.2 Hình thức và nội dung của HĐLĐ 

BLLĐ 2019 quy định “Người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản với lao động là người giúp việc gia đình.”3 Nội dung HĐLĐ  phải tuân thủ khoản 1 Điều 21 BLLĐ. Quy định này chủ yếu đảm bảo quyền và lợi  ích hợp pháp của các bên nhưng dường như thực tế cả người GVGĐ và người sử dụng lao động đều không muốn bị ràng buộc về mặt pháp lý với nhau nên việc thực  hiện quy định này không dễ. Các kết quả nghiên cứu cho thấy, trên 90% HĐLĐ  GVGĐ được thỏa thuận bằng lời nói. Pháp luật cần có biện pháp linh hoạt và răn đe để thay đổi nhận thức của NSDLĐ và lao động giúp việc gia đình, đồng thời tăng cường công tác  quản lý nhà nước để kịp thời phát hiện và xử lý đối với những trường hợp vi phạm. 

2.1.3 Thủ tục giao kết HĐLĐ 

HĐLĐ GVGĐ phải tuân theo thủ tục: (i) Cung cấp thông tin trước khi giao  kết HĐLĐ; (ii) Thử việc; (iii) Ký kết HĐLĐ; (iv) Thông báo với UBND cấp xã. 

Lao động giúp việc gia đình là đối tượng có nhiều nét đặc trưng nên pháp luật quy định các  thủ tục nh m các bên đạt được mong muốn, lợi ích tối đa. Đặc biệt cần phải thông báo đến cơ quan có thẩm quyền vì có liên quan đến con người, tạm trú,..Tuy nhiên  thì quy định này ít được thực hiện bởi NSDLĐ có thể thay đổi người giúp việc liên  tục nên họ rất ngại khai báo hoặc khai báo một lần nhưng lại thay đổi rất nhiều  NLĐ khác. Như vậy, pháp luật cần cân nhắc các giải pháp trong vấn đề quản lý lao động giúp việc gia đình. 

2.1.4 Thực hiện, tạm hoãn, chấm dứt HĐLĐ đối với lao động giúp việc gia đình

Khi HĐLĐ được kí kết, các bên có nghĩa vụ thực hiện đúng cam kết đã thỏa  thuận trong hợp đồng. Tạm hoãn HĐLĐ đối với lao động giúp việc gia đình trong trường hợp NLĐ  mang thai và do hai bên thỏa thuận. Để đảm bảo quyền lợi cho các bên, pháp luật  quy định về các trường hợp chấm dứt HĐLĐ GVGĐ. Theo quy định tại Khoản 2  Điều 162 mỗi bên có quyền chấm dứt HĐLĐ bất kì lúc nào nhưng phải báo trước  15 ngày để bên kia còn chuẩn bị và không bị động. 

2.1.5 Quyền, nghĩa vụ của các bên khi chấm dứt HĐLĐ 

Khi chấm dứt HĐLĐ các bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ cho nhau các  khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên trong HĐLĐ. Đối với NLĐ, khi  chấm dứt HĐLĐ sẽ được NSDLĐ trả trợ cấp thôi việc trừ một số trường hợp.  Ngoài ra còn được thanh toán tiền nghỉ phép năm, tiền tàu xe, các giấy tờ và các  khoản nợ (nếu có) trong 7 ngày, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. NSDLĐ có  trách nhiệm thanh toán các quyền lợi nói trên và thông báo đến cơ quan có thẩm  quyền trong vòng 7 ngày. 

2.2 Pháp luật về điều kiện lao động đối với lao động giúp việc gia đình

2.2.1 Quy định pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với lao động giúp việc gia đình

Về thời giờ làm việc: được xác định trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên, đồng  thời quỹ thời gian làm việc cũng có sự khác nhau giữa 2 độ tuổi của NLĐ là người  từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi và người đủ 18 tuổi trở lên. 

Để đảm bảo sức khỏe cho lao động giúp việc gia đình chưa thành niên, pháp luật có quy định riêng  tại Điều 146 BLLĐ 2019. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay chưa có văn bản hướng  dẫn cụ thể về việc lao động giúp việc gia đình làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm nên dễ gây nên  sự lạm dụng trong sử dụng lao động từ phía NSDLĐ. 

Về thời giờ nghỉ ngơi: được quy định cụ thể tại chương VII BLLĐ 2019. Cụ  thể lao động giúp việc gia đình phải được nghỉ ít nhất 8 giờ trong đó có 6 giờ liên tục trong 24 giờ  liên tục. Quy định này đảm bảo cho NLĐ có được sự nghỉ ngơi sau nhiều giờ liên  tục làm việc, tránh sự lạm dụng của NSDLĐ do sống cùng gia đình với họ. 

2.2.2 Quy định pháp luật về an toàn lao động và vệ sinh lao động đối với lao động giúp việc gia đình

Điều 13 Công ước 189 của ILO quy định mọi người lao động giúp việc gia đình có quyền  được làm việc trong một môi trường an toàn và vệ sinh. Khoản 5 Điều 89 Nghị  định 145/2020/NĐ-CP đã quy định vấn đề an toàn, vệ sinh lao động đối với lao  động là người giúp việc gia đình. Tuy nhiên trên thực tế không phải tất cả NSDLĐ  đều thực hiện hết trách nhiệm của mình và lao động giúp việc gia đình có thể không biết đến tất cả  các quyền lợi của mình được hưởng. Hơn nữa, pháp luật cần nhận thức về những  nguy cơ an toàn vệ sinh lao động đột xuất trong quá trình lao động và có cơ chế  điều tiết cũng như các biện pháp đảm bảo cho lao động giúp việc gia đình. 

2.3 Pháp luật về điều kiện sử dụng lao động đối với lao động giúp việc gia đình

2.3.1 Pháp luật về tiền lương 

Tiền lương là vấn đề mà bất kì NLĐ nào cũng đều quan tâm bởi đó ảnh  hưởng tới cuộc sống của chính NLĐ và gia đình họ. Khoản 3 Điều 162 BLLĐ 2019  quy định: “3. Hai bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động về hình thức trả lương,  kỳ hạn trả lương, thời giờ làm việc hằng ngày, chỗ ở”. Quy định này phù hợp với  nguyên tắc chung về chế độ tiền lương, bản chất của quan hệ lao động. Tại NĐ  145/2020/NĐ-CP quy định: “tiền lương của người lao động thỏa thuận trong hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 90 của Bộ luật Lao  động bao gồm mức lương theo công việc, phụ cấp lương và các khoản bổ sung  khác nếu có. Mức lương theo công việc bao gồm cả chi phí tiền ăn, ở của người lao  động tại gia đình người sử dụng lao động (nếu có) không được thấp hơn mức lương  tối thiểu vùng do Chính phủ công bố. Người sử dụng lao động và người lao động  thỏa thuận mức chi phí ăn, ở hằng tháng của người lao động (nếu có), tối đa không  quá 50% mức lương theo công việc ghi trong hợp đồng lao động”.  

Tuy nhiên, vấn đề vướng mắc khi thực hiện quy định trên là với quy định  mức lương (bao gồm cả chi phí ăn, ở của người lao động sống cùng gia đình người  sử dụng lao động nếu có) sẽ gây khó khăn trong việc xác định và gây nhầm lẫn trên  thực tế. Quy định này có thể sẽ tạo ra kẽ hở cho người sử dụng lao động lợi dụng  để đưa ra mức tiền lương không tương xứng với sức lao động của người lao động.  Bởi trên thực tế phần lớn 105 mức lương hiện nay là do gia đình chủ đề xuất và  quyết định (có 80,6% trường hợp mức lương hiện nay là do gia đình chủ đề xuất và  92,8% trường hợp do gia đình chủ quyết định mức lương này).  

2.3.2 Pháp luật về BHXH, BHYT đối với lao động giúp việc gia đình

Theo quy định NSDLĐ có trách nhiệm chi trả thêm cùng lúc với kỳ trả lương  của lao động giúp việc gia đình một khoản tiền tương đương mức đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y  tế theo quy định của pháp luật để người lao động chủ động tham gia bảo hiểm xã  hội, bảo hiểm y tế. So với BLLĐ năm 2012 với BLLĐ năm 2019 dường như không  có sự thay đổi nhiều, chỉ thay cụm từ để người lao động tự lo bảo hiểm thành để  người lao động chủ động tham gia BH H, BH T . Dù là tự lo hay chủ động  tham gia BH H thì theo quy định của pháp luật hiện hành người lao động giúp việc gia đình vẫn  chỉ thuộc đối tượng tham gia BHXH tự nguyện, như vậy sẽ không thể đảm bảo  được hết các quyền lợi cho người lao động.  

2.3.3 Pháp luật trong lĩnh vực kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất

Người sử dụng lao động và người lao động xác định cụ thể các hành vi, hình  thức xử lý kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất theo quy định tại khoản 2 Điều  118 và Điều 129 của Bộ luật Lao động và ghi trong hợp đồng lao động hoặc thể  hiện bằng hình thức thỏa thuận khác 4. Có hai hình thức xử lý kỷ luật lao động áp  dụng đối với người lao động bao gồm khiển trách, sa thải theo khoản 1, khoản 4  Điều 124 của Bộ luật Lao động.  

2.4 Pháp luật về xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực lao động giúp việc gia đình

Theo các tài liệu của ILO ghi nhận lao động giúp việc gia đình, đặc biệt là  lao động giúp việc gia đình làm việc tại nước ngoài là đối tượng lao động dễ bị bóc lột và lạm dụng. Tại Việt Nam, các hành vi bị nghiêm cấm đối với NSDLĐ khi có lao động giúp việc gia đình được quy định rõ tại Điều 165 BLLĐ 2019. Các quy định này cũng  thống nhất với các quy định về hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực lao động  (Điều 8 BLLĐ), góp phần cảnh báo và là cơ sở để xử lý vi phạm đối với người sử  dụng lao động có hành vi. Hiện nay vấn đề xử lý vi phạm hành chính liên quan đến lao động giúp việc gia đình được quy định tại Nghị Định 28/2020/NĐ-CP. 

Khác với BLLĐ 2012 thì BLLĐ 2019 quy định cơ quan có thẩm quyền giải  quyết tranh chấp lao động tại Điều 187 bao gồm: Hòa giải viên lao động, tòa án  nhân dân và bổ sung thêm cơ hội đồng trọng tài lao động. Tranh chấp lao động giữa  người GVGĐ với người sử dụng lao động không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải  trước khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết. 

Quy định này là hợp lý bởi người lao động giúp việc gia đình ở vị thế yếu thế hơn trong quan hệ lao  động với người sử dụng lao động. Mặt khác, do đặc thù của công việc GVGĐ rất  dễ bị người sử dụng lao động xâm phạm quyền lợi, lạm dụng sức lao động, ngược  đãi và các hành vi phạm pháp luật khác. Hơn nữa, lao động giúp việc gia đình chủ yếu là những người lao động xuất thân từ nông thôn, trình độ học vấn thấp, thiếu hiểu biết pháp  luật lao động, lại không có tổ chức đại diện để đứng ra bảo vệ họ nên khi tham gia  hòa giải họ có khả năng rơi vào vị thế bất lợi hơn khi thỏa thuận với phía người sử  dụng lao động. 

Về thời hiệu giải quyết tranh chấp lao động giữa lao động giúp việc gia đình và NSDLĐ cũng  tuân theo quy định về thời hiệu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân nói chung  được quy định tại Điều 189 BLLĐ năm 2019. Quy định như vậy là phù hợp với yêu  cầu của việc giải quyết tranh chấp lao động, cần giải quyết nhanh chóng nh m khôi  phục quyền, lợi ích hợp pháp của các bên đã bị xâm phạm, giúp người lao động có  thể tiếp tục công việc bình thường, giải tỏa mâu thuẫn, bất động giữa các bên, duy  trì và củng cố quan hệ lao động. 

3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG  GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM 

BLLĐ 2019 đã kế thừa và phát triển những quy định về lao động giúp việc gia đình của  BLLĐ 2012 nhưng xét thấy vẫn tồn đọng một số bất cập trên thực tế, lao động giúp việc gia đình là  bên yếu thế, cần phải được bảo vệ. Chính vì lý do đó, em xin đề xuất một số kiến  nghị đảm bảo quyền lợi cho các chủ thể trong quan hệ lao động giúp việc gia đình đồng thời hướng  đến mục tiêu đưa GVGĐ trở thành việc làm bền vững cho người lao động. 

Thứ nhất, đối với pháp luật về hợp đồng lao động giúp việc gia đình cần bổ sung thêm quy  định về hậu quả của tạm hoãn HĐLĐ GVGĐ. Hiện pháp luật cho phép người sử  dụng lao động được quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ với lao động giúp việc gia đình nếu hết  thời hạn tạm hoãn HĐLĐ mà người lao động không có mặt. Tuy nhiên, trường hợp  nếu người lao động có lý do chính đáng thì người sử dụng lao động có quyền đơn  phương chấm dứt HĐLĐ không Việc bổ sung quy định này sẽ là cơ sở để bảo vệ  quyền lợi cho người lao động giúp việc gia đình, đồng thời cũng là căn cứ cho việc giải quyết tranh chấp giữa người sử dụng lao động và người lao động.

Thứ hai, điều chỉnh quy định pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ  ngơi theo hướng quy định tổng số giờ làm việc trong ngày, trong tuần, tổng số giờ  nghỉ ngơi tối thiểu, quy định cụ thể về thời gian làm thêm giờ đối với lao động giúp việc gia đình.  Bổ sung quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với lao động giúp  việc gia đình sống cùng gia đình người sử dụng lao động.  

Thứ ba, cần bổ sung các quy định về đảm bảo điều kiện sống cho lao động giúp việc gia đình. 

Thứ tư, bổ sung quy định về đào tạo nghề, bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng nghề  đối với lao động giúp việc gia đình và cấp chứng chỉ nghề cho lao động giúp việc gia đình. Đồng thời cũng cần quy  định tăng mức xử phạt đối với các hành vi vi phạm pháp luật về lao động giúp việc  gia đình để đủ sức răn đe, phòng ngừa vi phạm. Hơn nữa, cũng cần có quy định về  nhiệm vụ của thanh tra lao động trong việc thanh tra, kiểm tra hộ gia đình sử dụng  lao động giúp việc gia đình. 

GVGĐ là một công việc đã xuất hiện, tồn tại từ lâu ở các quốc gia trên thế  giới và cả ở Việt Nam. Cùng với sự phát triển kinh tế, lao động giúp việc gia đình ngày càng có vai  trò quan trọng với sự phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia. Tuy nhiên, pháp  luật về lao động giúp việc gia đình bên cạnh những ưu điểm vẫn không tránh khỏi tồn tại, hạn chế,  thiếu sự linh hoạt và hiệu quả thực thi không cao. Bên cạnh việc hoàn thiện pháp  luật cũng cần chú trọng tới những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện  pháp luật về lao động giúp việc gia đình trong đó việc tăng cường công tác thông tin, tuyền thông về lao động giúp việc gia đình thay đổi thái độ, nhận thức, quan điểm của xã hội về nghề GVGĐ,  nâng cao hiểu biết pháp luật về lao động giúp việc gia đình là một trong những giải pháp quan trọng  cần hướng tới.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1. Bộ luật lao động 2012; 

2. Bộ luật lao động 2019; 

3. Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số  điều của Bộ luật lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động; 

4. Nghị định 28/2020/NĐ-CP định xử phạt hành chính lĩnh vực lao động, bảo  hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp  đồng; 

5. Đỗ Thị Dung (chủ nhiệm đề tài) (2017), Pháp luật lao động Việt Nam về lao  động giúp việc gia đình – Thực trạng và phương hướng hoàn thiện, Đề tài  nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường ĐH Luật Hà Nội. 

6. Đỗ Thị Dung (chủ biên) (2018), Pháp luật về lao động giúp việc gia đình ở Việt  Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội; 

7. Lã Trọng Đại (2014), Những vấn đề nảy sinh trong quan hệ lao động giúp việc  gia đình và giải pháp khắc phục , Tạp chí Lao động và xã hội; 

8. Quỳnh Anh, Theo Doanh nghiệp và Tiếp thị, , “ILO: Cần công nhận giúp việc  gia đình là một nghề chính thức”,16/6/2021; 


TỔNG ĐÀI LUẬT SƯ 1900 0191 - GIẢI ĐÁP PHÁP LUẬT TRỰC TUYẾN MIỄN PHÍ MỌI LÚC MỌI NƠI
Tài liệu trên là tài sản của Công ty Luật LVN, chỉ được sử dụng để tham khảo, việc tự áp dụng trong mọi trường hợp sẽ dẫn đến hậu quả không mong muốn.
Để có được lời khuyên pháp lý an toàn nhất, vui lòng liên hệ Luật sư (Miễn phí 24/7) số: 1900.0191 để gặp Luật sư, Chuyên viên tư vấn pháp luật.

Bộ phận tư vấn pháp luật

Phân tích các điều kiện đảm bảo cho pháp luật đi vào đời sống

Phân tích các điều kiện đảm bảo cho pháp luật đi vào đời sống.

Luật pháp ra đời được coi là thành tựu đại diện cho một xã hội văn minh, được dùng để điều chỉnh các mối quan hệ trong xã hội nên pháp luật được coi là công cụ hữu hiệu nhất giúp Nhà nước quản lý xã hội. Tuy nhiên, nói cho cùng pháp luật cũng là sinh ra từ cuộc sống, được con ngươi tạo ra để phục vụ con người, vì vậy, để pháp luật đi vào đời sống một cách hài hòa vẫn luôn là một bài toán khó. Tùy từng hoàn cảnh, tùy từng trường hợp mà pháp luật được áp dụng để vừa đảm bảo công bằng, vừa được sự đồng thuận của người dân.

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT

I. Pháp luật là gì

1. Khái niệm

Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội theo mục đích, định hướng nhất định.

Sở dĩ pháp luật có tính bắt buộc chung vì pháp luật do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện thống nhất. Tính bắt buộc chung thể hiện ở chỗ:
+ Việc tuân theo các quy tắc pháp luật không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của mỗi người. Bất kỳ ai dù có địa vị, tài sản, chính kiến, chức vụ như thế nào cũng phải tuân theo các quy tắc pháp luật.
+ Nếu ai đó không tuân theo các quy tắc pháp luật thì tùy theo mức độ vi phạm mà Nhà nước áp dụng các biện pháp tác động phù hợp để đảm bảo thực hiện đúng các quy tắc đó.
+ Tính quyền lực Nhà nước là yếu tố không thể thiếu, bảo đảm cho pháp luật được tôn trọng và thực hiện.

Nhà nước sẽ thừa nhận những tập quán trong xã hội bằng cách pháp điển hóa, ghi nhận trong luật thành văn.

2. Đặc điểm

* Pháp luật mang tính quyền lực của Nhà nước:

Đây là đặc điểm riêng có của pháp luật mà không một công cụ điều chỉnh nào khác có. Để thực hiện việc tổ chức và quản lí các mặt của đời sống xã hội, nhà nước cần có pháp luật. Các quy định pháp luật có thể do nhà nước đặt ra, cũng có thể được tạo nên từ việc nhà nước thừa nhận các quy tắc xử sự sẵn có trong xã hội như đạo đức, phong tục tập quán, tín điều tôn giáo… Với tính cách là những quy tắc xử sự, phảp luật chính là những yêu cầu, đòi hỏi hoặc cho phép của nhà nước đối với hành vi ứng xử của các chủ thể trong xã hội. Nói cách khác, pháp luật thể hiện ý chí của nhà nước. Thông qua pháp luật, nhà nước cho phép người dân được làm gì, không cho phép họ làm gì hay bắt buộc họ phải làm gì, làm như thế nào… Với quyền lực của mình, nhà nước có thể sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để tổ chức thực hiện pháp luật, yêu cầu các cá nhân, tổ chức trong xậ hội phải thực hiện pháp luật nghiêm chỉnh. Khi cần thiết, nhà nước có thể sử dụng các biện pháp cưỡng chế để bảo vệ pháp luật, trừng phạt người vĩ phạm, đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh trong cuộc sống.

* Pháp luật mang tính quy phạm phổ biến:

Pháp luật gồm các quy tắc xử sự chung, được thể hiện trong những hình thức xác định, có kết cấu loorrich rất chặt chẽ và được đặt ra không phải xuất phát từ một trường hợp cụ thể mà là sự khái quát hóa từ rất nhiều những trường hợp có tính phổ biến trong xã hội. Điều này đã làm cho quy định pháp luật có tính khái quát hóa cao, là những khuôn mẫu điển hình để các chủ thể (tổ chức, cá nhân) thực hiện theo khi gặp phải những tình huống mà pháp luật đã dự liệu.

Pháp luật mang tính băt buộc chung, các quy định pháp luật được dự liệu không phải cho một tổ chức hay cá nhân cụ thể mà cho tất cả các tổ chức và cá nhân có liên quan. Xuất phát từ vị trí, vai trò của nhà nước trong xã hội (tổ chức đại diện chính thức cho toàn xã hội), nên pháp luật là bắt buộc đối với tất cả, việc thực hiện pháp luật

* Pháp luật có tính hệ thống:

Pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội bằng cách tác động lên cách xử sự của các chủ thể tham gia quan hệ xã hội đó, làm cho quan hệ phát triển theo chiều hướng nhà nước mong muốn. Mặc dù điều chỉnh các quan hệ xã hội trong nhiều lĩnh vực khác nhau, song các quy định của pháp luật không tồn tại biệt lập mà giữa chúng có mối liên hệ nội tại thống nhất với nhaú, tạo nên một chỉnh thể thống nhất.Cách ngành luật có mối quan hệ với nhau, hỗ trợ lần nhau

* Pháp luật có tính xác định về hình thức:

Pháp luật được thể hiện trong những hình thức xác định như tập quán pháp, tiền lệ pháp, văn bản quy phạm pháp luật. Ở dạng thành văn, các quy định của pháp luật được thể hiện một cách rõ ràng, cụ thể, không trừu tượng, chung chung, bảo đảm có thể được hiểu và thực hiện thống nhất trên toàn xậ hội.

3. Vai trò của pháp luật

Đối với mỗi chủ thể pháp luật sẽ thể hiện các vai trò khác nhau:

Với Nhà nước: Pháp luật được xem là công cụ hữu hiệu nhất để quản lý tất cả các vấn đề trong xã hội.

Với xã hội: Pháp luật đã thể hiện được vai trò trong việc đảm bảo sự vận hành tạo lập và duy trì mối quan hệ bình đằng trong cộng đồng.

Với công dân: Pháp luật đóng vai trò quan trọng là phương tiện để bảo về quyền lợi hợp pháp của mình.

II. Pháp luật dân chủ

Pháp luật chỉ mang tính tương đối, một hệ thống pháp luật hoạt động hiệu quả trong đời sống của nhân dân chính là pháp luật vì nhân dân, là pháp luật dân chủ. Hệ thống pháp luật phải đáp ứng đúng các điều kiện để thực sự dân chủ sẽ là nền tảng, là chìa khóa để đi vào đời sống người dân một cách dễ dàng hơn. Vậy, để có thể đi vào đời sống thì pháp luật cần có những điều kiện sau đây:

Thứ nhất, pháp luật phải có nhân dân tham gia vào quá trình xây dựng, không chỉ dừng lại ở việc góp ý, nêu quan điểm mà nhân dân phải nắm giữ được quyền lập pháp thông qua các đại biểu đại diện cho quyền lợi của nhân dân.

Thứ hai, ngăn ngừa sự lạm quyền, độc đoán, chuyên quyền của các cơ quan nhà nước, thừa nhận và bảo vệ nguyên tắc phân quyền, phối hợp và kiểm soát quyền lực Nhà nước.

Thứ ba, pháp luật dân chủ là pháp luật vì con người, nội dung và bản chất pháp luật dân chủ là đề cao giá trị con người,  hoạt động của các Cơ quan Nhà nước phải tuân thủ pháp luật nhueng không được quá cứng nhắc dẫn đến xâm hại các quyền cơ bản của con người hay công dân

Thứ tư, quy định rõ quyền, nghĩa vụ của công dân chính là quyền, nghĩa vụ của Nhà nước(mang tinh chất đối xứng), thể hiện rõ quyền con người, quyền công dân chỉ có thể hạn chế trong trường hợp khẩn cấp, đặc biệt vì lý do Quốc phòng an ninh, sức khỏe cộng đồng,…

CHƯƠNG II: CÁC ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO CHO PHÁP LUẬT ĐI VÀO ĐỜI SỐNG

1. Pháp luật phải khách quan

Nhà làm luật không tự làm ra luật, họ chỉ ghi nhận những quy luật phát triển của xã hội bằng những ký tự được gọi là quy phạm pháp luật. Bất luận trong khía cạnh nào, pháp luật cũng là sự nhận thức chủ quan của con người đối với thế giới khách quan, con người nhận thức tồn tại xã hội rồi đưa ra các quy tắc xử sự chung (pháp luật). Do vậy, quá trình xây dựng pháp luật phải phản ánh được những yêu cầu khách quan về sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với các quan hệ xã hội nhất định. Nội dung của các quy định pháp luật phải phù hợp với các quy luật khách quan, bảo đảm phát huy vai trò tích cực của pháp luật đối với đời sống xã hội.

Để đảm bảo nguyên tắc khách quan trong xây dựng pháp luật thì trước khi bắt tay vào xây dựng pháp luật cần nghiên cứu sâu sắc thực tiễn xã hội, các quá trình kinh tế, chính trị, tư tưởng, tâm lý xã hội; đặc điểm dân cư, nhu cầu của các tầng lớp, các nhóm nghề nghiệp; vấn đề dân tộc và sắc tộc… thông tin từ việc nghiên cứu này sẽ là cơ sở tốt để xây dựng các quy định pháp luật phù hợp. Ngoài ra còn phải nghiên cứu thực tiễn pháp lý trước đó như thực tiễn quản lý, thực tiễn xét xử, hoạt động của các tổ chức và cá nhân trong xã hội…

Mặt khác nguyên tắc khách quan còn đòi hỏi phải luôn đặt các quy định pháp luật trong mối liên hệ với sự phát triển về mọi mặt của xã hội và làm sao để xây dựng được các quy định pháp luật phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện thực tiễn phát triển của đất nước. Các dự án luật phải được nhiều cơ quan tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng, đặc biệt là cần có nhiều phương án để cho các cơ quan có thẩm quyền lựa chọn. Sau khi đã có phương án điều chỉnh cần phải có sự thẩm định về các mặt kinh tế xã hội, khoa học…, nếu thực hiện tốt nguyên tắc này hoạt động xây dựng pháp luật sẽ mang lại hiệu quả cao.

Khi xây dựng pháp luật luôn phải chú ý để làm sao các quy định pháp luật phải có khả năng thực hiện được trên thực tế. Sự phù hợp với các điều kiện thực tế (về vật chất, kỹ thuật, tổ chức…) bảo đảm cho quy định pháp luật có thể thi hành được trên thực tế. Nếu quy định pháp luật không phù hợp với thực tế thì nó sẽ khó được thi hành trong thực tế hoặc được thi hành nhưng kém hiệu quả. Nội dung các quy phạm pháp luật, các văn bản quy phạm pháp luật được xây dựng với một trình độ kỹ thuật pháp lý cao có kết cấu chặt chẽ, logic, các thuật ngữ pháp lý được sử dụng chính xác, một nghĩa, lời văn trong sáng, ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với khả năng nhận thức của quảng đại quần chúng nhân dân. “Một quy phạm pháp luật sẽ phát huy được hiệu quả cao hơn nếu phù hợp với quan niệm, ý thức hiện có của công dân và ngược lại[1]. Sự chặt chẽ, rõ ràng, chính xác của các quy phạm pháp luật cũng tránh được những thiếu sót, sơ hở có thể bị lợi dụng trong quá trình thực hiện và áp dụng pháp luật. Để có thể đưa pháp luật đi vào đời sống một cách có hiệu quả thì chất lượng các văn bản pháp luật phải được xây dựng đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục luật định, có tên gọi phù hợp với nội dung thể hiện, hình thức rõ ràng, dễ thực hiện.

Ngoài ra, pháp luật phải chứa đựng các giá trị tiến bộ, dân chủ, nhưng phải phù hợp với các điều kiện kinh tế-văn hóa, chính trị-xã hội của đất nước. Đây là lí do vì sao pháp luật phải liên tục thay đổi, các VBPL cần phải sửa đổi, bổ sung các điều luật đã không còn áp dụng được trong thực tiễn nữa.

2. Pháp luật phải công khai

Việc công khai quá trình xây dựng pháp luật là cần thiết trừ trường hợp văn bản quy phạm pháp luật có nội dung thuộc bí mật nhà nước. Cần quán triệt tinh thần là xây dựng pháp luật không chỉ là công việc của nhà nước mà còn là công việc của toàn xã hội, nên cần phải để dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra.

Không chỉ bảo đảm sự công khai còn phải bảo đảm tính minh bạch trong quá trình xây dựng pháp luật. Tất cả các công đoạn, quy trình của quá trình xây dựng pháp luật, các nguyên tắc xây dựng pháp luật đều cần phải được quy định rõ ràng, rành mạch.

Trước khi muốn người dân học và làm theo pháp luật, thì phải công khai cả quá trình và kết quả của quá trình xây dựng pháp luật, để nhân dân có thể có cái nhìn khách quan hơn đối với mỗi vấn đề được đề cập đến. Dân biết dân mới kiểm tra và đánh giá được còn những bất cập nào, vì hơn ai hết họ là người chịu sự tác động của pháp luật. Từ đó có thể nâng cao được hiệu quả khi đưa pháp luật vào đời sống cũng như khiến người dân ý thức được quyền và nghĩa vụ của mình.

3. Cơ chế bảo vệ pháp luật hiệu quả

 Không khó để nhận ra tình trạng lạm dụng quyền lực Nhà nước hiện nay như ban hành văn bản vượt quá thẩm quyền, khiến cho việc áp dụng pháp luật trở nên khó khăn và không đảm bảo tính công bằng, minh bạch. Do đó, cần phải có những cơ chế để bảo vệ pháp luật để pháp luật được thực thi nghiêm túc, chuẩn mực, đúng đắn, xã hội mới thượng tôn pháp luật, tránh được tình trạng “Pháp luật từng địa phương”, “Pháp luật riêng của từng vùng, ngành” tránh được sự chồng chéo, sai phạm ở nội dung và hình thức các loại văn bản pháp luật.

Ngoài ra, Luật pháp thì không thương lượng, có lỗi sẽ phải bị xử phạt, không thể có những trường hợp nếu có người phạm luật rồi bị phạt, có khi nào vì nghèo lại miễn phạt, các cơ chế xử phạt cần được áp dụng nghiêm minh và triệt để hơn nữa để người dân không xảy ra tình trạng coi thường pháp luật để đến mức tái phạm 1-2 lần, từ đó pháp luật đi vào đời sống một cách đúng đắn và nghiêm minh hơn.

4. Ý thức của các chủ thể tham gia pháp luật

* Ý thức của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức phục vụ trong Cơ quan Nhà nước:

Thực hiện hoạt động giám sát một cách tích cực thông qua việc phản ánh đầy đủ các ý kiến của cử tri và hoạt động chất vấn của đại biểu. Đặc biệt quan tâm đến việc giám sát các chương trình mục tiêu Quốc gia mà Nhà nước đã ban hành (chương trình xây dựng nông thôn mới; chương trình giảm nghèo bền vững) để các chương trình đó thực sự mang lại hiệu quả, góp phần vào việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.

 Tham gia thực hiện tốt công tác lập pháp, vận dụng thực tiễn thi hành pháp luật vào cuộc sống; lắng nghe những quan điểm khác nhau, phân tích lựa chọn thông tin, cân nhắc đánh giá các dự luật để tham gia thảo luận góp ý và biểu quyết có chất lượng các dự án luật, để luật ban hành ra sẽ đi vào cuộc sống, góp phần vào việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của dân, do dân và vì dân. Đồng thời tham gia một cách có trách nhiệm trong góp ý, thảo luận, biểu quyết các vấn đề quan trọng của đất nước mà Quốc hội bàn bạc, quyết định để các quyết định đó thực sự hợp lòng dân và mang lại lợi ích cho nhân dân.

Thực tế chứng minh chúng ta đã làm rất tốt thông qua mô hình PBGDPL: trong năm 2020, nhiều cơ quan, đơn vị đã đổi mới, xây dựng các mô hình PBGDPL hiệu quả như: các cấp hội phụ nữ tỉnh thành lập gần 200 tài khoản Facebook để giới thiệu hoạt động của hội và tuyên truyền pháp luật; Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh tổ chức tuyên truyền cho hành khách xuất nhập cảnh, lái xe, chủ hàng và Nhân dân khu vực biên giới, cửa khẩu được 2.500 lượt người, cấp phát 3.500 tờ rơi, tờ gấp tuyên truyền pháp luật bằng hai thứ tiếng (tiếng Việt Nam và tiếng Trung Quốc); huyện Bình Gia đa dạng hình thức hưởng ứng ngày Pháp luật Việt Nam…[2]

* Ý thức người dân:

Rõ ràng pháp luật đi vào đời sống thì người dân chính là chủ thể chịu tác động trực tiếp từ pháp luật, do đó, việc nâng cao ý thức người dân về pháp luật là một việc làm vô cùng quan trọng và mang tính lâu dài. Như đã đề cập ở trên, pháp luật chỉ mang tính tương đối, tức là trong mỗi hoàn cảnh, mỗi giai đoạn pháp luật đều được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với điều kiện xã hội-kinh tế thời điểm đó, tương tự người dân cũng vậy, luôn luôn phải được trang bị cho bản thân những kiến thức cơ bản về pháp luật, giữ những giá trị tiến bộ của pháp luật và không dập khuôn theo những quy định cũ.

Trên thực tế, khi có những vướng mắc liên quan đến pháp luật, người dân luôn có tâm lý sợ, ngại và lúng túng. Đặc điểm văn hóa này được hình thành do nhiều yếu tố, nhưng không thể phủ nhận, nhiều người trong chúng ta ngại học, ngại tìm hiểu, dẫn đến không hiểu và không muốn dùng đến luật pháp. Vấn đề lựa chọn “kênh” pháp lý để giải quyết các tranh chấp phần lớn người dân chưa quen. Bởi thế, thay vì dùng đến pháp luật, nhiều người đã chọn cách tự xử lý, tự giải quyết một cách trái pháp luật. Thậm chí, tình trạng “tự xử” bạo lực kiểu “luật rừng” thay cho luật pháp rất đáng lo ngại.  Vì vậy, để pháp luật phát huy tốt vai trò điều chỉnh các mối quan hệ của nó thì người dân phải làm quen, phải tìm hiểu, phải học. Chúng ta cần tiếp tục quan tâm, triển khai giảng dạy, tuyên truyền pháp luật một cách hệ thống đến mọi người, mọi nơi, mọi lúc. Tùy vào từng cấp học nhưng pháp luật cần được giáo dục, giảng dạy phổ biến trong các nhà trường. Mọi người dân, dù ở lĩnh vực nào, điều kiện ra sao cũng phải được thường xuyên tiếp cận, phổ biến những kiến thức này. Nâng cao trình độ hiểu biết luật pháp thông qua tuyên truyền, giáo dục cho mọi người dân luôn là thiết yếu trong xã hội. Mỗi chúng ta cần phải học luật để hành động theo luật.

Việc pháp luật đi vào đời sống người dân có hiệu quả hay không phản ánh đúng bản chất pháp luật và chất lượng của hệ thống pháp luật. Đương nhiên, một hệ thống đảm bảo tính khách quan, khả thi, công khai, minh bạch kết hợp với ý thức cuẩ người dân lẫn các nhà làm luật sẽ là một hệ thống pháp luật chuẩn mực để nhân dân có thể tin tưởng và chấp hành làm theo. Tuy nhiên, đối với việc này còn nhiều khó khăn và hạn chế. Vì vậy, tuyên truyền và nâng cao ý thức cũng như kiến thức cho người dân sẽ luôn được đặt lên hàng đầu trong công cuộc đi tìm lời giải đáo cho câu hỏi: “Làm thế nào để đưa pháp luật vào đời sống?”


[1] http://sotuphapqnam.gov.vn/index.php/2017-03-13-06-49-51/781-tieu-chi-xac-nh-cht-lng-ca-h-thng-phap-lut

[2] https://baolangson.vn/phap-luat/334387-de-phap-luat-di-vao-cuoc-song.html


TỔNG ĐÀI LUẬT SƯ 1900 0191 - GIẢI ĐÁP PHÁP LUẬT TRỰC TUYẾN MIỄN PHÍ MỌI LÚC MỌI NƠI
Tài liệu trên là tài sản của Công ty Luật LVN, chỉ được sử dụng để tham khảo, việc tự áp dụng trong mọi trường hợp sẽ dẫn đến hậu quả không mong muốn.
Để có được lời khuyên pháp lý an toàn nhất, vui lòng liên hệ Luật sư (Miễn phí 24/7) số: 1900.0191 để gặp Luật sư, Chuyên viên tư vấn pháp luật.

Bộ phận tư vấn pháp luật

Đánh giá các quy định pháp luật về chế độ thai sản

Đánh giá các quy định pháp luật về chế độ thai sản.

Hiện nay tại một số doanh nghiệp trong và ngoài nước với đặc thù công việc thì đa phần sẽ là lao động nữ số lao động nữ, điều này có tác động sâu sắc tới vấn đề bảo hiểm thai sản.

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM THAI SẢN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM THAI SẢN 

1. Lý luận chung về chế độ bảo hiểm thai sản:

1.1. Khái niệm bảo hiểm thai sản: 

Chế độ bảo hiểm thai sản là một trong các chế độ của Bảo hiểm xã hội,bao gồm các quy định của Nhà nước nhằm bảo đảmthu nhập bị giảm và chi phí tăng lên. Điều này không chỉ đảm bảo sức khỏe cho người lao động nữ nói riêng trong quá trình mang thai, sinh con mà còn cho người lao động nói chung khi nuôi con sơ sinh và thực hiện các biện pháp tránh thai.

1.2. Ý nghĩa của bảo hiểm thai sản: 

Theo “Báo cáo Tổng kết chính sách bảo hiểm xã hội” của Bộ Lao động,Thương binh và Xã hội, từ năm 2000 đến nay, bình quân cứ 30 người tham gia bảo hiểm xã hội có 1 người được hưởng trợ cấp thai sản, với độ dài hưởng trợ cấp bình quân là 90 ngày. Từ năm 1995 đến nay, đã giải quyết cho gần 1,31 triệu lượt người hưởng chế độ thai sản. Như vậy, chế độ bảo hiểm có ý nghĩa rất quan trọng đối với người lao động (cả nam và nữ), cụ thể là:

– Tạo điều kiện cho lao động nữ thực hiện tốt chức năng làm mẹ và thực hiện công tác xã hội. 

– Tạo điều kiện cho lao động nam thực hiện nghĩa vụ khi có vợ sinhcon.

– Đảm bảo thu nhập cho người lao động trong thời gian hưởng thai sản.

– Đảm bảo sức khỏe cho người lao động và quyền được chăm sóc của trẻ sơ sinh. 

2. Quy định của pháp luật về chế độ bảo hiểm thai sản:

2.1. Đối tượng và điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm thai sản:

Căn cứ theo Điều 30,31 Luật BHXH 2014 Nghị định115/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định người lao động được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: 

a) Lao động nữ mang thai; 

b) Lao động nữ sinh con; 

c) Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi; 

d) Người lao động nữ đặt vòng tránh thai, thực hiện các biện pháp triệt sản. 

đ) Lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ

e) Người lao động nam đang đóng BHXH có vợ sinh con 

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 31 Luật BHXH2014, người lao động thuộc các trường hợp trên phải tham gia BHXH như sau: 

“2.Người lao động quy định tại các điểm b, c và d phải đóng BHXH từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi. 

3.Người lao động quy định tại điểm b khoản 1 Điều này đã đóng BHXH từ đủ 12 tháng trở lên mà khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì phải đóng BHXH từ đủ 03 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con.”

2.2. Chế độ và quyền lợi bảo hiểm thai sản:

2.2.1. Đối với thời gian hưởng chế độ bảo hiểm thai sản:

Căn cứ theo Điều 32, 33, 34, 35, 36 và 37 Luật BHXH quy định chi tiết thời gian hưởng chế độ Bảo hiểm thai sản như sau:

2.2.1.1. Thời gian nghỉ khám thai:(Điều 32)

Lao động nữ được nghỉ việc để đi khám thai 05 lần, mỗi lần 01 ngày; trường hợp ở xa cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc người mang thai có bệnh lý hoặc thai không bình thường thì được nghỉ 02 ngày cho mỗi lần khám thai.Thời gian nghỉ này tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết,ngày nghỉ hằng tuần. 

2.2.1.2. Thời gian nghỉ khi bị sẩy thai, nạo, hút thai: (Điều 33)

Để giúp người lao động nữ nhanh chóng phục hồi sức khỏe, sớmổnđịnhnhịp sinh học của cơ thể, tại Khoản 1, Điều 33 của Luật Bảo hiểm xã hội năm2014 quy định, khi sảy thai, lao động nữ được nghỉ việc, hưởng chế độ thai sản theo chỉ định của bệnh viện có thẩm quyền. Trong thời gian nghỉ việc (tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết và ngày nghỉ hằng tuần), việc hưởng trợ cấp sẽ là :

– 10 ngày đối với trường hợp thai dưới 05 tuần tuổi. – 20 ngày đối với trường hợp thai từ 05 tuần tuổi đến dưới 13 tuần tuổi.- 50 ngày nếu thai từ 25 tuần tuổi trở lên. 

– 40 ngày nếu thai từ 13 tuần tuổi đến dưới 25 tuần tuổi.

Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, với nhịp độ cuộc sống cũngnhư yêu cầu của công việc, nhu cầu cần đảm bảo về sức khỏe sinh sản thì mức nghỉ trên là còn thấp.

2.2.1.3. Thời gian nghỉ sinh con: ( Điều 34)

– Đối với lao động nữ: 

∙Thời gian nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con tối đa là 6 tháng, trong đó nghỉ trước sinh không quá 02 tháng. 

∙Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên, cứ thêm mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng. 

– Đối với lao động nam: 

∙Trường hợp thông thường, lao động nam đóng BHXH được nghỉ 05 ngày khi có vợ sinh con. 

∙Trường hợp vợ sinh con phẫu thuật, thời gian nghỉ là 07 ngày.

∙Trường hợp sinh đôi: Nghỉ 10 ngày. 

∙Trường hợp sinh ba trở lên, cứ thêm mỗi con thì lao động nam được nghỉ thêm 03 ngày. 

∙Nếu vợ sinh đôi và phải phẫu thuật, lao động namđược nghỉ 14 ngày làm việc. 

2.2.1.4. Chế độ thai sản của lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ: (Điều 35) 

– Lao động nữ mang thai hộ được hưởng chế độ khi khám thai, sẩy thai,nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý và chế độ khi sinh con cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho người mẹ nhờ mang thai hộ nhưng không vượt quá thời gian quy định. Trong trường hợp kể từ ngày sinh đến thời điểm giao đứa trẻ mà thời gian hưởng chế độ thai sản chưa đủ 60 ngày thì người mang thai hộ vẫn được hưởng chế độ thai sản cho đến khi đủ 60 ngày tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần. 

– Người mẹ nhờ mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản từ thời điểm nhận con cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi. 

– Thủ tục hưởng chế độ thai sản đối với lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ được quy định 

2.2.1.5. Thời gian nghỉ khi nuôi con nuôi: (Điều 36)

Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi. 

Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia bảo hiểm xã hội, đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản quy định tại khoản 2, Điều 31 của Luật Bảo hiểm xã hội 2014 thì chỉ cha hoặc mẹ được nghỉ việc hưởng chế độ. 

Để bảo vệ quyền lợi cho những người nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi, Điều 36, Luật Bảo hiểm xã hội (2014) quy định đây cũng là một trongnhững đối tượng được hưởng chế độ thai sản cụ thể là sẽ được nhận trợ cấp một lần cho mỗi con. Căn cứ Điều 39, Luật Bảo hiểm xã hội (2014), ngoài khoản tiền trợ cấp một lần nêu trên, người nhận con nuôi dưới 06 tháng tuổi còn được hưởng một khoản tiền bằng 100% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH của 06 tháng trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản. 

2.2.1.6. Thời gian hưởng chế độ khi thực hiện các biện pháp tránh thai:(Điều 37) 

Khi thực hiện biện pháp tránh thai, hưởng chế độ thai sản theo chỉ định của cơ sở khám bệnh; chữa bệnh có thẩm quyền. Thời gian nghỉ việc tối đa được quy định như sau: 

– 07 ngày đối với lao động nữ đặt vòng tránh thai; – 15 ngày đối với NLĐ thực hiện biện pháp triệt sản. 

Thời gian hưởng chế độ thai sản nêu trên tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết,ngày nghỉ hằng tuần.

Trước đây, khi thực hiện các biện pháp tránh thai, người lao động chỉ được hưởng mức trợ cấp theo chế độ ốm đau (thấp hơn chế độ thai sản). Trong khi, các biện pháp tránh thai này đều gây ra ảnh hưởng không nhỏ tới sức khỏe và tâm lý của người lao động. Vì thế, thay đổi về quan điểm của nhà làm luật đã thể hiện sự thấu hiểu và đảm bảo tính công bằng, cũng như có sự hỗ trợ, động viên đối với người lao động khi thực hiện các biện pháp tránh thai

2.2.2. Các loại trợ cấp và mức hưởng chế độ bảo hiểmthai sản:

* Đối với lao động nữ: 

– Trợ cấp 1 lần: 

Theo Điều 38 Luật Bảo hiểm xã hội 2014, lao động nữ sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi sẽ được hưởng tiền thai sản, bao gồm: Trợ cấp một lần = Mức lương cơ sở x 2 

Năm 2021, mức lương cơ sở là 1,49 triệu đồng/tháng. Do đó, mức trợ cấp một lần khi sinh còn là: 1,49 triệu đồng x 2 = 2,96 triệu đồng.

– Mức hưởng: 

– NLĐ hưởng chế độ thai sản theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội 2014 thì mức hưởng chế độ thai sản được tính như sau: 

+ Mức hưởng một tháng bằng 100% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH của 06 tháng trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản, Trường hợp NLĐ đóng BHXH chưa đủ 06 tháng thì mức hưởng chế độ thai sản theo quy định là mức bình quân tiền lương tháng của các tháng đã đóng BHXH; 

+ Mức hưởng một ngày đối với trường hợp quy định được tính bằng mức hưởng chế độ thai sản theo tháng chia cho 24 ngày; 

+ Mức hưởng chế độ khi sinh con; nhận nuôi con nuôi được tính theo mức trợ cấp tháng quy định; trường hợp có ngày lẻ hoặc trường hợp quy định thì mức hưởng một ngày được tính bằng mức trợ cấp theo tháng chia cho 30 ngày.

– Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng được tính là thời gian đóng BHXH, NLĐ và người sử dụng lao động không phải đóng BHXH. 

Như vậy có thể hiểu ngắn gọn: 

Mức hưởng hàng tháng = 100% x Mức bình quân tiền lươngthángđóngBHXH 06 tháng trước khi nghỉ việc 

Trường hợp chưa đóng đủ 06 tháng thì mức hưởng được tính theo mức bình quân tiền lương tháng của các tháng đã đóng. 

* Đối với lao động nam: 

Trợ cấp: 

Trợ cấp một lần = Mức lương cơ sở x 2 (tức 2,96 triệu đồng) – Tiền chế độ: 

Theo Điểm b khoản 1 Điều 39 Luật Bảo hiểmxã hội 2014: Mức hưởng = Mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXHcủa06thángtrước khi nghỉ việc : 24 x Số ngày nghỉ 

CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ VỀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂMTHAI SẢN

3. Thực trạng áp dụng các quy định về chế độ bảo hiểm thai sản:

3.1. Về đối tượng và điều kiện hưởng chế độ thai sản: – Về đối tượng: 

So với Luật Bảo hiểm xã hội 2006 trước đây, Luật Bảo hiểm xã hội 2014- Điều 30 đã mở rộng thêm phạm vi áp dụng chế độ bảo hiểm thai sản cho trường hợp người lao động là người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng và người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương. Tuy nhiên, trong các đối tượng hưởng trợ cấp thai sản đã quy định chưa tính đến một số trường hợp,như: người lao động phải nghỉ việc vì mang thai bệnh lí, người nuôi dưỡng trẻ sơ sinh khi người mẹ tham gia bảo hiểm bị chết sau khi sinh con, lao động nam có tham gia bảo hiểm xã hội nhưng vợ không thamgia bảo hiểm. Như thế, chưa thể hiện sự bình đẳng giữa các đối tượng thuộc diện tham gia và hưởng bảo hiểm thai sản, đồng thời chưa đảm bảo đầy đủ quyền cho người lao động, đặc biệt cho lao động nữ và trẻ sơ sinh.

– Về điều kiện: 

Việc quy định điều kiện để hưởng trợ cấp thai sản – người lao động phải có thời gian đóng BHXH đủ 6 tháng trong vòng 12 tháng trước khi sinh con–dẫn đến những trường hợp đã có thời gian tham gia BHXH nhiều năm, nhưngvì lý do nào đó không đủ điều kiện nêu trên thì sẽ không được hưởng chế độ thai sản và không được tính thời gian nghỉ thai sản theo quy định. Quy định này không đảm bảo quyền lợi cho người lao động và còn dẫn đến tình trạng“lách” luật (lao động nữ nghỉ việc nhưng vẫn đóng BHXH để đủ điều kiện hưởng trợ cấp thai sản) 

3.2. Về Các loại trợ cấp và mức hưởng bảo hiểmchế độ thai sản:

Đây là khoản tiền nhằm bù đắp thêm những chi phí tăng lênđột ngột do người mẹ cần phải sắm sửa những vật dụng cần thiết cho việc nuôi con nhỏ. Vì vậy, để đảm bảo sự công bằng, pháp luật cần ấn định bằng một khoản tiền cụ thể giống như các nước, cụ thể bằng 3 đến 5 tháng tiền lương tối thiểu chung. Và khoản trợ cấp này được áp dụng cho cả người lao động nuôi con nuôi sơ sinh. Mức trợ cấp 1 lần được áp dụng cho mỗi trẻ sơ sinh kèm theo trợ cấp mất sữa, trợ cấp thêm sữa cho trường hợp sinh đôi trở lên hoặc trường hợp khi sinh con bị thiếu cân, thiếu tháng. 

4. Một số kiến nghị, đề xuất: 

Đầu tiên, theo em cần mở rộng phạm vi các đối tượng áp dụng chế độ bảo hiểm thai sản nhằm hướng tới việc bảo vệ tối đa quyền và lợi ích của người lao động trong xã hội. Mặc dù hiện tại Luật bảo hiểmxã hội 2014 đã hướng đến 2 đối tượng cụ thể cho chế độ thai sản là lao động nữ và lao động nam,tuy nhiên vẫn chưa đi sâu và đặc thù từng ngành nghề của mỗi lao động. Ví dụ như trong môi trường làm việc nặng nhọc thì đối với lao động nữ có thể được phép chuyển sang công việc nhẹ nhàng hơn từ thời điểm có thai vì thời điểm đấy là thời điểm nhạy cảm nhất trong suốt thai kì. Như vậy sẽ đảm bảo được sức khỏe của thai phụ. 

Cuối cùng, trong suốt 9 tháng thai kì lao động nữ cần thiết đượcnghỉkhám thai 7-9 lần thay vì nghỉ 5 lần như hiện tại. Tức là trung bình1-2 tháng mang thai, lao động nữ được nghỉ đi khám thai 1 lần, như vậy sẽ đảm bảo tốt cho sức khỏe của thai phụ và thai nhi. Ngày nghỉ khám thai sẽ vẫn được tính lương như bình thường. 

Thực hiện tốt chế độ bảo hiểm thai sản tronng thời gian qua đã nâng cao chất lượng sống của rất nhiều gia đình có cả lao động namvà nữ, đặc biệt là lao động nữ khi họ có thời gian nhiều hơn để chăm sóc con cũng như chăms óc cho bản thân mình. Tuy nhiên trong quá trình áp dụng không tránhkhỏi những hạn chế, bất cập. Vì vậy cần tập trung giải quyết các vấn đề còn tồn đọng để chế độ thai sản được thực hiện một cách hiệu quả hơn.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAMKHẢO

  1. Luật bảo hiểm xã hội 2014 
  2. Bộ Lao động, Thương binh và xã hội (2005), Báo cáo tổng kết chính sách bảo hiểm xã hội, Bộ Lao động, Thương binh và xã hội, ngày 10/8/2005
  3. Đỗ Thị Dung (2006), Chế độ bảo hiểm thai sản và hướng hoàn thiện nhằm đảm bảo quyền lợi của lao động nữ. Tạp chí Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Số 3/2006 
  4. Hoàng Thúy Hà (2017), “Pháp luật về bảo hiểm thai sản và thực tiễn thực hiện tại quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội”, Luận văn thạc sỹ Luật học-Trường Đại học Luật Hà Nội. 

TỔNG ĐÀI LUẬT SƯ 1900 0191 - GIẢI ĐÁP PHÁP LUẬT TRỰC TUYẾN MIỄN PHÍ MỌI LÚC MỌI NƠI
Tài liệu trên là tài sản của Công ty Luật LVN, chỉ được sử dụng để tham khảo, việc tự áp dụng trong mọi trường hợp sẽ dẫn đến hậu quả không mong muốn.
Để có được lời khuyên pháp lý an toàn nhất, vui lòng liên hệ Luật sư (Miễn phí 24/7) số: 1900.0191 để gặp Luật sư, Chuyên viên tư vấn pháp luật.

Bộ phận tư vấn pháp luật

Truyền thông quốc tế – Đặc điểm, chính sách đối ngoại của Việt Nam, xu thế nghiên cứu

Truyền thông quốc tế, một vài nét lý luận về Đặc điểm, chính sách, xu thế nghiên cứu. Bài tiểu luận nhằm mục đích nghiên cứu về 3 vấn đề chính: 

  • Truyền thông quốc tế giai đoạn Chiến tranh Lạnh đến nay; 
  • Chính sách truyền thông đối ngoại của Việt Nam: 
  • Xu thế nghiên cứu Truyền thông quốc tế như một ngành khoa học. 

Trong thế kỷ XXI, hoạt động thông tin không giới hạn trong khuôn khổ quốc gia dân tộc mà được trao đổi một cách có tổ chức giữa các quốc gia. 

Truyền thông quốc tế như một dòng chảy độc lập và diễn ra trong bối cảnh kiểm soát nghiêm ngặt hơn truyền thông nội bộ. Thời kỳ đối đầu gay cấn nhất, truyền thông quốc tế không biến mất mà ngược lại còn phát triển mạnh mẽ hơn, đồng thời là một lực lượng trung tâm, ngay cả khi nó không xuất hiện trong một hình thức trực tiếp. Ví dụ, tác động của phim ảnh hay văn hóa đại chúng. 

Nhận thức đúng về TTQT, có một chiến lược phát triển bài bản về TTQT sẽ đưa TTQT trở thành lĩnh vực hữu hiệu để trao đổi thông tin giữa các quốc gia, dân tộc, văn hóa hoặc các nhóm người, các cộng đồng, kể cả ở cấp quốc tế và ở cấp độ trong nước. Mối quan hệ này có ý nghĩa quan trọng và to lớn trong quá trình xây dựng đất nước và tạo ra bản sắc văn hóa riêng biệt. Với phần lớn các vấn đề trong lĩnh vực quan hệ quốc tế, kiểm soát vũ khí và chi tiêu quân sự, các vấn đề địa chính trị, chính sách đối ngoại,.. thì thông tin đóng một vai trò rất quan trọng, vì vậy TTQT càng đáng được lưu tâm và coi trọng. 

Để có những bước tiến mới trong việc lý giải các vấn đề đặt ra, chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu và tổng kết để có những cơ sở khoa học hơn nữa trong ngành truyền thông quốc tế. 

CHƯƠNG I : ĐẶC ĐIỂM CỦA TRUYỀN THÔNG QUỐC TẾ TỪ GIAI ĐOẠN CHIẾN TRANH LẠNH CHO ĐẾN NAY 

1. Giai đoạn Chiến tranh Lạnh : 

Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc, giữa bối cảnh một Châu Âu bị tàn phá và suy yếu trong hệ thống quốc tế với vai trò lu mờ của Anh, Pháp và một nước Đức đổ nát trên bờ vực bị chia cắt; Nhật Bản đầu hàng và chịu kiểm soát quốc tế về quân sự; Ý được kiến tạo lại nhà nước và thể chế dân chủ. 

Trong khi đó, Mỹ và Liên Xô nổi lên với vai trò là siêu cường thế giới, giàu có và hùng mạnh. Cả hai quốc gia này nhanh chóng nắm quyền chi phối toàn bộ hệ thống chính trị quốc tế1. Tuyên truyền thông qua truyền thông trong Chiến tranh lạnh đã được ưu tiên đến mức tối đa với ba lý do chính2

Thứ nhất, truyền thông là các kênh không chỉ truyền tải thông tin, mà còn nhân rộng các ý tưởng, hình mẫu thông qua nhiều mô hình và hình thức khác nhau. Nói cách khác, tuyên truyền là một vectơ mang ý thức hệ, thuyết phục bằng ý tưởng, phi bạo lực, song cũng hiệu quả như thuyết phục bằng vũ lực; – Thứ hai, thông tin mang tính phi vật chất và dễ thẩm thấu, hòa lẫn, không biết đến biên giới và giới hạn, có thể len lỏi khắp nơi cả về phạm vi địa lý lẫn xã hội, giữa các tầng lớp công chúng, từ nước này qua nước kia mà khó có khả năng ngăn chặn; 

Thứ ba, thông qua các chương trình truyền thông, nhất là các chương trình trên đài phát thanh có tính chất giải trí, các quốc gia dễ che đậy mục đích tuyên truyền, gây ảnh hưởng đến công chúng nước ngoài. 

Bước vào Chiến tranh lạnh, cả hai siêu cường đều tin vào mô hình xã hội và hệ tư tưởng mà mình theo đuổi và quyết tâm giành thắng lợi. Nhưng, triết lý tuyên truyền được lựa chọn không giống nhau. Mỹ xây dựng tuyên truyền thành khoa học, Liên Xô sử dụng tuyên truyền như một nghệ thuật. Nhìn chung, một trật tự thế giới đã được hình thành sau thế chiến II, đó là trật tự thế giới của Chiến tranh Lạnh với hai hệ quan điểm: – Chủ nghĩa cộng sản; 

– Chủ nghĩa tư bản 

Tuyên truyền của Liên Xô : 

Trong những năm tháng của Chiến tranh Lạnh, Liên Xô đã thành lập Ủy ban Thông tin Cộng sản nhằm tổ chức tuyên truyền trên toàn thế giới. 

TASS (Telegraphone Agenstvo Sovietskovo Saiutza) là nguồn tin chính của cả khối Đông Âu và cả những nước thuộc thế giới thứ ba lúc bấy giờ. 

Trọng tâm của chính sách tuyên truyền Xô Viết đưa ra là cuộc đối đầu ý thức hệ giữa chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa đế quốc. Đối tượng tuyên truyền là quần chúng nhân dân thuộc các nước thuộc địa cũ thuộc thế giới thứ ba và tầng lớp nhân dân lao động tại các nước tư bản phát triển. 

Đến cuối những năm 1960, Đài phát thanh Moscow vẫn là đài phát quốc tế lớn nhất thế giới với lượng phát sóng và phổ bao phủ lớn gấp nhiều lần so với Hoa Kỳ. Nếu so sánh thời lượng phát sóng ra bên ngoài của nước Mỹ thì cũng gần như tương đương ( 3 đài chính VOA, Radio Liberty, Radio Free Europe ) tăng từ 497 giờ/ tuần lên đến 2060 giờ/ tuần kể từ 1950 – 1973. 

Phê phán “ chủ nghĩa xét lại” của Liên Xô, Trung Quốc đã vươn lên trở thành cường quốc đứng thứ 3 thế giới về phát thanh hải ngoại, tuyên truyền chế độ cộng sản của Mao Trạch Đông. 

Tuy nhiên, bất chấp mạng lưới truyền thông của Liên Xô có hùng mạnh đến đâu thì các đài phát và trụ sở báo chí ( lấy tin ) lại rất hiếm khi đặt ở nước ngoài – trừ Habana Radio ( Cuba ). Bởi vậy, Liên Xô thường gặp vấn đề bị nhiễu sóng và phá sóng; trong khi đó lại không thường xuyên xảy ra đối với hệ thống radio của phương Tây. 

Tuyên truyền của Hoa Kỳ: 

VOA là một bộ phận không thể tách rời của nền ngoại giao Hoa Kỳ thời kì Chiến tranh thế giới lần thứ II và suốt cả thời gian chiến tranh lạnh. VOA, RL, RFE và American Forces Network (AFN) đều do nhà nước tài trợ nhưng VOA là cơ quan ngôn luận chính thức của Hoa Kỳ và có trách nhiệm về phát ngôn, sử dụng quan điểm của ban biên tập của đài ,trong khi BBC World Service sử dụng các nguồn và các quan điểm bình luận khác nhau. Do đó, giới phân tích cho rằng, quan điểm hạn hẹp và không thật đáng tin cậy với tư cách là một thực thể truyền thông quốc tế. 

Cuộc vận động của VOA ủng hộ Tổng thống Truman sau sự kiện chiến tranh Triều Tiên năm 1950 đã làm tăng nhu cầu sử dụng radio với tư cách công cụ tuyên truyền ( ở Mỹ ). Đây là cuộc tập dượt về phương tiện truyền thông radio lớn nhất với hàng triệu cuộc phỏng vấn trực tiếp lên sóng để nước Mỹ thử nghiệm nhân rộng các cuộc xung đột kế tiếp diễn ra ở châu Phi, châu Á và Mỹ La tinh. 

Năm 1951, Tổng thống Truman xây dựng hẳn một Ban Tâm lý chiến trực thuộc Uỷ ban An ninh Quốc gia Hoa Kỳ nhằm thiết kế các chương trình và tư vấn cho các hoạt động tuyên truyền quốc tế chống cộng sản. 

VOA điều phối mạng truyền thông toàn cầu của Hoa Kỳ, nó có các trạm phát thanh ở khắp nơi để tuyên truyền ý tưởng về cái gọi là “ lối sống Mỹ” cho thính giả quốc tế. Những trạm chính yếu của mạng lưới này chịu sự kiểm soát của Washington ( trạm ở Bangkok là cho khu vực Đông Nam Á; trạm Poro và Tinnang ở Philippines là cho khu vực Trung Quốc, Đông Nam Á; trạm Colombo cho khu vực Nam Á; Tangier ở Morocco cho khu vực Bắc Phi; trạm Rhodes ở Hy Lạp là cho khu vực Trung Đông ..), các trạm tương tự như vậy mọc lên như nấm và chúng thực thi một chiến lược tuyên truyền toàn cầu của Mỹ. Việc đặt các trạm phát thanh sao cho sóng mạnh và không bị nhiễu, do đó thường nằm sát khu vực đối tượng tuyên truyền. Trong nhiều trường hợp, chúng có thể là những đài phát chuyển tiếp hoặc bí mật. 

Tranh giành ảnh hưởng đối với thế giới thứ ba: 

Một cuộc chiến chính yêu khác nhằm chinh phục “trái tim và khối óc” của nhân dân trong thời kỳ chiến tranh lạnh diễn ra ở địa bàn thuộc thế giới thứ ba, nơi xuất hiện hàng loạt quốc gia thoát khỏi chế độ thuộc địa. Khi đó, Liên Xô đã nhận thức được rằng, bản chất của phong trào thuộc địa là phản kháng và chống lại phương Tây, đó cũng chính là cơ hội tốt để tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản. 

Nhằm tranh giành ảnh hưởng với làn sóng chủ nghĩa cộng sản của Liên Xô, các đài Mỹ, Pháp.. cũng phủ sóng mạnh mẽ ở khu vực châu Phi và Trung Đông. Đáng chú ý là cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã làm cho Mỹ đầu tư đáng kể vào mạng lưới phát thanh ở Đông Nam Á với các trụ sở đặt tại Thái Lan, Philippines 

Với nguồn cung cấp năng lượng – dầu mỏ cho nền kinh tế thế giới; thêm vào đó, các chế độ chính trị ở khu vực này có xu hướng tôn giáo và bảo thủ nên khu vực Trung Đông cũng rất được phương Tây quan tâm trong thời kì chiến tranh lạnh. Ở khu vực Mỹ Latinh, Mỹ cũng tăng cường mạng lưới tuyên truyền qua sóng phát thanh sau cuộc cách mạng vô sản Cuba năm 1959, nhằm ngăn chặn làn sóng ý thức hệ cộng sản lan tỏa ở khu vực này. 

Tuy nhiên, các nước phương Tây không chỉ hướng tuyên truyền vào mục tiêu ý thức hệ mà còn quan tâm đến các mục tiêu khác như kinh tế và văn hóa. Các đài phát thanh phương Tây cũng đưa được một lượng thông tin lớn và phong phú trên nhiều lĩnh vực cho dân chúng thuộc thế giới thứ ba. 

Nhu cầu về một trật tự truyền thông quốc tế mới : 

Trước sự tranh giành ảnh hưởng của hai luồng ý thức hệ, các nước thuộc thế giới thứ ba đã lựa chọn thái độ trung lập để tranh thủ phát triển và phong trào Không liên kết (NAM) đã ra đời. Việc hình thành khối các nước không liên kết này đã làm chuyển dịch đáng kể chiến lược truyền thông quốc tế. Bản đồ truyền 7

thông quốc tế đang từ lưỡng cực “Đông – Tây” bắt đầu có xu hướng chuyển thành phân hoá theo tuyến “Bắc – Nam” 

Giai đoạn này đã xuất hiện thuật ngữ mới được thảo luận rộng rãi trong giới truyền thông quốc tế: “Trật tự thế giới mới về thông tin và truyền thông” – NWICO/ New World Information and Communication Order). 

Mốc đánh dấu về trật tự mới này là hội nghị 1975 ở Helsinki về an ninh và hợp tác châu Âu với khẩu hiệu “tự do hơn nữa thông tin và phát tán rộng rãi tất cả các loại tin tức”. 

Theo quan điểm của “trật tự mới” này thì “trật tự cũ” đang tạo ra sự bất bình đẳng trong phát triển. Trật tự thông tin cũ hàm chứa mô hình phụ thuộc rất rõ rệt đối với đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá của các nước đang phát triển. Nhìn chung, nhu cầu về một trật tự thông tin mới là hết sức cấp thiết và rõ ràng. Nó được thể hiện ở những điểm chính yếu sau: 

i. Sự mất cân bằng về việc sở hữu công nghệ thông tin cũng như sức mạnh tổng hợp về kinh tế, chính trị, quân sự 

ii. Cấu trúc phụ thuộc của cái sau này vào cái đầu tiên được tạo nên bởi xã hội giàu thông tin có được vị thế và quy định các xã hội nghèo thông tin. 

iii. Quá trình lan tỏa thông tin trên toàn cầu không đi theo cấu trúc chiều ngang và các công ty xuyên quốc gia của phương Tây nắm giữ luật lệ các cuộc chơi. 

iv. Thông tin được các phương tiện truyền thông xuyên quốc gia xem như một loại “hàng hóa” và sức mạnh cho phép chúng thiết lập các luật lệ thị trường trên toàn cầu. 

v. Trật tự thông tin hiện hành là một bộ phận không tách rời của hệ thống ứng xử bất bình đẳng quốc tế – một thứ biến thái của chủ nghĩa thực dân mới. 

Như vậy, các tổ hợp truyền thông quốc tế lớn được trang bị thông tin một cách tự động. Ngoài ra, khi thông tin được phương Tây đưa ra thế giới thì nó đã bị thiết định, cắt gọt và chỉnh sửa theo cách nhìn nhận của các tổ hợp truyền thông quốc tế mà không phải quan điểm của chính nước cung cấp thông tin. 

Nhu cầu về một trật tự thông tin quốc tế mới (NWICO) được đặt ra và trở nên mãnh liệt vào những năm 1973-1976. UNESCO đã phải ra tuyên bố năm 1978 về truyền thông đại chúng. Cuối năm đó, Liên Hợp Quốc cũng đã thông qua nghị quyết về NWICO. 

Hệ quả là năm 1977, một Ủy ban nghiên cứu về các vấn đề truyền thông của LHQ đã được thành lập – The MacBride Commission. Năm 1980, Ủy ban này đưa ra 82 khuyến nghị, đáng chú ý là “dân chủ hóa truyền thông” và cũng đưa ra đề nghị: Phải có sự hiện diện của các đại biểu đến từ những giai tầng khác nhau trong xã hội và cơ cấu quản lí truyền thông. 

MacBride Commission cho rằng, tự do thông tin chỉ có đối với những “kẻ mạnh” trong hệ thống truyền thông thế giới, bên cạnh đó cũng chỉ ra rằng, lợi dụng chính sách mở cửa và tự do thông tin, một số tập đoàn và quốc gia đã làm xói mòn sự ổn định xã hội, vi phạm đến chủ quyền và an ninh của các quốc gia khác, quấy rối sự phát triển của quốc gia đó.. 

Với tư cách là những văn bản quốc tế đầu tiên đưa ra cái nhìn toàn diện về những vấn đề của truyền thông quốc tế tuy nhiên các hãng truyền thông lớn như The World Press Freedom Committee, AP, UPI, American Newspaper Publishers Association… đã bày tỏ thái độ không đồng tình trước thái độ chống tư nhân hóa các phương tiện truyền thông và những cáo buộc liên quan đến hiệu ứng tiêu cực của quảng cáo đối với xã hội được nêu ra trong các tài liệu của MacBride Commission. 

Dựa trên các tài liệu này, UNESCO đã tổ chức một hội nghị toàn thể ở Belgrade năm 1980 và thông qua một nghị quyết về “một trật tự truyền thông quốc tế mới” với những nội dung cơ bản sau: 

– Xóa bỏ tình trạng mất cân đối và bất công về thông tin hiện nay; – Xóa bỏ những hiệu ứng tiêu cực do một số dạng độc quyền thông tin gây ra; 

– Dỡ bỏ những rào cản bên trong và bên ngoài đối với quá trình tự do hóa và phát tán ác dòng chảy thông tin và tư tưởng mang tính đối xứng; – Đa nguyên hóa các nguồn và các kênh thông tin; 

– Tự do in ấn và thông tin; 

– Quyền tự do cho các phóng viên và các nhà chuyên môn trong lĩnh vực truyền thông; 

– Thúc đẩy năng lượng truyền thông của các nước phát triển bằng cách tạo thực trạng của họ thông qua việc cung ứng thiết bị, đào tạo nhân sự, nâng cấp hạ tầng, thiết kế thông tin phù hợp với nhu cầu tâm lý; 

– Các nước phát triển cần phải tỏ rõ thiện chí trong việc giúp đỡ thực hiện các mục tiêu trên; 

– Tôn trọng tất cả các đặc thù văn hóa và quyền của các dân tộc trong việc thông tin cho thế giới biết về lợi ích, nguyện vọng và các giá trị văn hóa cũng như xã hội của họ; 

– Tôn trọng quyền của tất cả mọi người tham dự vào quá trình trao đổi thông tin quốc tế trên cơ sở bình đẳng, công bằng và cùng có lợi; – Tôn trọng các quyền của công chúng, các nhóm sắc tộc, xã hội cũng như các cá nhân trong việc tiếp cận các nguồn tin và tham dự tích cực vào quá trình truyền thông. 

Bất đồng quan điểm : 

Các nước phương Tây đứng đầu là Hoa Kỳ coi trật tự thông tin và truyền thông mới là mang “hơi hướng Xô Viết” vì nó thúc đẩy các nước thuộc thế giới thứ ba, kiểm soát truyền thông đại chúng thông qua hệ thống giám sát của nhà nước. Những nước này cho rằng, về lý thuyết, quan điểm của NIWCO là hoàn toàn đi ngược các giá trị tự do của phương Tây và nguyên tắc “dòng chảy tự do thông tin” đã được đề ra trước đó ; NIWCO cũng đã tạo điều kiện cho những kẻ độc tài ở các nước thuộc thế giới thứ ba cái cớ bóp nghẹt tự do truyền thông, đưa ra các hệ thống kiểm duyệt và ngăn chặn các phóng viên nước ngoài bằng các khẩu hiệu như “quyền tự quyết văn hóa”, “chống chủ nghĩa đế quốc truyền thông”.. 

Các thể chế thông tin của phương Tây đã mạnh mẽ đấu tranh chống lại bất cứ sự đổi thay nào trong trật tự thông tin toàn cầu. Điều mà các quốc gia độc tài ở thế giới thứ ba đã không cho phép giới truyền thông thực hiện vì lý do chính trị. 

Sự đổ vỡ của NWICO : 

Những năm 1979 đến cuối những năm 1980 có nhiều biến động lớn trên trường quốc tế: cách mạng Hồi giáo (1979) ở Trung Đông; Nga can thiệp vào Afghanistan.. Tổng thống Hoa Kỳ ở giai đoạn này – Ronald Reagan đưa ra quan điểm về giai đoạn mới của Chiến tranh Lạnh. Đây cũng là thời kì các chính sách của các cường quốc tư bản chủ nghĩa đối với các nước đang phát triển thuộc thế giới thứ ba bây giờ đã chuyển hướng sang trao đổi và khuyến khích thương mại thuộc khu vực tư nhân thay vì viện trợ hay can thiệp quân sự để thúc đẩy phát triển. 

Trong lĩnh vực truyền thông quốc tế, Mỹ tỏ thái độ dứt khoát phản đối NWICO, MacBride Commission và UNESCO nói chung về những chính sách và đường lối mà các thể chế quốc tế này theo đuổi. Luận điểm mà Mỹ đưa ra là MacBride Commission đã trao quyền và tạo điều kiện để các chính phủ của các nước đang phát triển có cớ kiểm soát chặt chẽ hơn các phương tiện truyền thông đại chúng. 

Xu hướng giải điều tiết kinh tế và tư nhân hóa đối với truyền thông nói riêng và với kinh tế nói chung đã thể hiện rất rõ trong chính sách của các phe bảo thủ cầm quyền tại hai cường quốc là Mỹ và Anh. Đến lượt mình, những xu hướng này đã tác động mạnh đến chiều hướng phát triển của truyền thông quốc tế trong giai đoạn những năm 1980. Luận thuyết “các dòng chảy thông tin tự do” lúc này đã được gắn kết chặt chẽ với luận thuyết “thị trường tự do”. 

Đặc biệt, Tổng thống Reagan đã rất chú trọng đến sức mạnh chính trị của truyền thông, khi nêu ra những bài học kinh nghiệm của nước Mỹ về tuyên truyền trong những năm 1950; từ đó nhấn mạnh tính chất công cụ của truyền thông và thể hiện rõ ý định sử dụng truyền thông để truyền bá tư tưởng Mỹ trên khắp thế giới, đồng thời chống lại ý thức hệ của Liên Xô. 

Theo cách đó, ngoại giao công chúng đã được Mỹ thúc đẩy mạnh mẽ và rõ rệt chính là ở giai đoạn này. Ủy ban Thông tin quốc tế (IIC) của Hoa Kỳ đã lên kế hoạch để hỗ trợ các hành động quốc tế của Mỹ gắn với mục tiêu an ninh. Hàng loạt các dự án và chương trình truyền thông của IIC đã ra đời vào giai đoạn này. 

2. Giai đoạn kết thúc Chiến tranh Lạnh đến nay: 

Bức tường Berlin sụp đổ năm 1989, hai năm sau đó là sự tan rã của Đế chế Xô viết, kéo theo sự sụp đổ hàng loạt của hệ thống xã hội chủ nghĩa. Chiến trah Lạnh đã đi đến hồi kết thúc. Bức tranh chính trị thế giới đã đổi thay đáng kể. 

Năm 1989, Truyền hình đã có một ảnh hưởng rất đáng kể đối với sự sụp đổ chính trị ở các nước Đông Âu. Với chủ nghĩa tư bản, văn hóa cùng ý thức hệ của nó đã lan tỏa một cách khá hòa bình ở các nước này. 

Tháng 8 năm 1991, một sự kiện ở Moscow đã làm chấn động dư luận quốc tế vì nó đã đem lại cho các khán thính giả trên thế giới chứng kiến những thời khắc quan trọng nhất trong sự biến động chính trị, không chỉ có ý nghĩa với Liên Xô mà còn với cả sự tiến triển của nền chính trị thế giới – kết thúc chiến tranh Lạnh với sự sụp đổ của Đế chế Xô viết. Từ sau thời điểm này, giới truyền thông của khối Đông Âu đã bước vào kỷ nguyên của tự do thông tin và thị trường truyền thông. 

Trật tự lưỡng cực trên thế giới biến mất – chỉ còn lại một cực chiến thắng (Hoa Kỳ và các đồng minh), do đó cuộc chiến tuyên truyền trên mạng truyền thông quốc tế giữa hai cực cũng đã đi đến hồi kết – tuy nhiên những gì còn lại của hiện thực ấy là sự lãnh đạo của Hoa Kỳ trong truyền thông quốc tế. 

Trong giai đoạn kết thúc cuộc chiến, các đài phát thanh của phương Tây ở châu Âu đã làm việc với công suất như chưa từng bao giờ có trước đó. Hòa đồng với sự tích cực của mạng truyền thông phương Tây là sự mở cửa hệ thống truyền thông nội địa các nước Đông Âu với sự nới lỏng kiểm duyệt của nhà nước đối với tự do ngôn luận. 

Bên cạnh những biến cố và chính sách chính trị, một nguyên nhân khác nữa thúc đẩy sự phát triển của truyền thông quốc tế ở giai đoạn này là sự phát minh và ứng dụng hệ thống truyền tín hiệu trực tiếp từ vệ tinh (DBS); cáp quang; kỹ thuật thông tin số và máy tính. 

Hai đặc điểm cơ bản của truyền thông quốc tế ở giai đoạn này là: Tư nhân hóa – định hướng theo thị trường; và hình thành nên một hạ tầng kỹ thuật cho truyền thông toàn cầu. 

Truyền thông quốc tế phát triển theo hướng tư nhân hóa và được dẫn dắt bởi thị trường hơn là bởi ý chí của các nhà nước . 

Những năm 1990 đã xuất hiện những thay đổi nền tảng trên trường chính trị quốc tế, những thay đổi ấy dẫn đến việc hình thành nên một hệ thống thể chế thương mại quốc tế định hướng cơ sở thị trường. Tình thế đó đã có ảnh hưởng mạnh đến truyền thông quốc tế. 

Truyền thông đang bước từ nhãn quan chính sách “lấy nhà nước làm trung tâm” sang nhãn quan “lấy thị trường làm định hướng”. Theo đó, không phải nhà nước kiểm soát và định hướng truyền thông theo các mục tiêu của nhà nước, trái lại, chính thị trường dẫn dắt định hướng phát triển của cái sau này theo các quy luật khách quan của nó ( chẳng hạn về lợi nhuận, chênh lệch giá cả, cung cầu..) 

Quan điểm này được chấp nhận và thực hiện trước hết là ở các cường quốc, thứ nữa là các thể chế quốc tế đa phương (UNESCO, ITU..). Tuy nhiên, đối với các nước độc tài, các nước kém phát triển, quá trình đó diễn ra khá chậm trễ và đôi khi còn bị cố tình ngưng trệ bởi những lý do chính trị. 

Việc nghiên cứu truyền thông từ giác độ nhà nước dưới hình thái “thông tin đối ngoại” của nước này đối với nước khác (quan hệ chính phủ – chính phủ) vốn rất phổ biến và mang tính truyền thống trước đó, mà ở đó các siêu cường thông tin dần bị thay thế bởi các nghiên cứu về những mạng truyền thông quốc tế ở cấp độ khu vực và toàn cầu, trong đó vai trò của nhà nước chỉ là một trong những tác nhân bên cạnh các tác nhân phi nhà nước như công ty, tổ chức phi chính phủ, các mạng xã hội, thậm chí là Netizen. 

Xu hướng hình thành nên một hạ tầng kỹ thuật cho truyền thông toàn cầu 

Bên cạnh quá trình giải điều tiết và tư nhân hóa, truyền thông cũng bị ảnh hưởng lớn lao đến từ các phát minh khoa học và công nghệ, đặc biệt là quá trình vi tính hóa và công nghệ số. Các tác nhân này đã hình thành nên hệ thống truyền thông vệ tinh. 

Có thể nói, chính nhờ sự tồn tại của một hạ tầng kỹ thuật là hệ thống vệ tinh, truyền thông đang được toàn cầu hóa, vì vậy, ý niệm về truyền thông quốc tế với tư cách là một hiện thực độc lập mới trở nên rõ ràng. 

Thông tin dưới hình thái số hóa thông tin qua các phương tiện truyền thông đến với hệ thống vệ tinh và từ đó phát tán khắp bề mặt trái đất. Đây thật là một cuộc cách mạng về truyền thông mà lịch sử trước đó chưa từng chứng kiến. 

Các nhà nghiên cứu nhìn nhận hạ tầng của truyền thông quốc tế hiện nay từ hai giác độ: “phần cứng” và “phần mềm”. Liên quan đến “phần cứng”, hệ thống này được cấu từ : 

– Mạng vệ tinh toàn cầu; 

– Mạng Internet với nền tảng do Mỹ phát triển và xây dựng;

– Hệ thống các đường truyền, thiết bị công nghệ đi kèm;

– Các chủ thể truyền thông; 

Trong khi đó, “phần mềm” bao gồm: 

– Các luật lệ truyền thông quốc tế ( công ước, hiệp định,..) – Các trình điều khiển chạy trên thiết bị truyền thông; 

– Các dòng thông tin; 

– Văn hóa của các chủ thể tham dự quá trình truyền thông; – Ngôn ngữ giao tiếp; 

– Năng lực kết nối, chia sẻ, phân tích ,.. của cả hai bên 

Truyền thông quốc tế được hình dung như một hiện thực độc lập tương đối trong quan hệ với các chủ thể là nhà nước thì : Quá trình xây dựng phần cứng và phần mềm của truyền thông quốc tế hiện nay diễn ra như thế nào? Ai là người đóng góp và ai có lợi nhất? là những câu hỏi mà các nhà nghiên cứu về truyền thông quốc tế hiện nay đang hướng đến giải đáp. 

CHƯƠNG II : CHÍNH SÁCH THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM 

1. Quá trình ra đời và phát triển của chính sách thông tin đối ngoại Việt Nam: 

Chiến lược thông tin đối ngoại Việt Nam là một phần quan trọng trong đường lối đối ngoại của nước ta những năm đổi mới. Sự nhận thức đúng đắn và kịp thời của Đảng về việc cung cấp thông tin đối ngoại đã thực sự là nền tảng để định hướng các hoạt động trong lĩnh vực này. 

Đảng và Chính phủ ta có ban hành nhiều văn bản quan trọng về công tác thông tin đối ngoại như: chỉ thị số 11/CT-TW về “đổi mới và tăng cường công tác thông tin đối ngoại”, Thông báo số 188/TB-TW về công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới , Nghị quyết ĐH IX của Đảng (2001) tiếp tục nhấn mạnh nhiệm vụ tăng cường công tác TTĐN,… Văn bản đầu tiên của Đảng và Nhà nước ta là Chỉ thị số 11/CT-TW của Ban bí thư Trung ương Đảng (1992) về “đổi mới và tăng cường” công tác thông tin đối ngoại. Xét về nguyên nhân khách quan, thời điểm đầu những năm 1990 là thời điểm bất lợi cho chế độ xã hội chủ nghĩa vì một loạt mô hình XHCN ở các nước Đông Âu và Liên Xô sụp đổ dẫn đến phong trào cộng sản, thoái trào, tạo điều kiện cho các lực lượng thù địch chế độ XHCN đẩy mạnh các hoạt động thông tin liên lạc, lừa bịp nhằm chống phá3. Đây là thời điểm vô cùng cần thiết để ta tiến hành thông tin đối ngoại về bản chất tốt đẹp của Nhà nước XHCN. Dù con đường tiến tới CNXH có nhiều khó khăn, thử thách nhưng chúng ta sẽ chứng minh với thế giới rằng Việt Nam đang bắt đầu công cuộc đổi mới và không lùi bước trước bất cứ thử thách nào. 

Ngoài ra đây cũng là lúc chúng ta cần củng cố và xây dựng niềm tin, sự đoàn kết, đồng lòng và ủng hộ trong nhân dân ta đối với sự nghiệp Đổi mới và con đường mà Đảng và Nhà nước đã chọn để không một lực lượng thù địch nào có thể làm chia rẽ sự đoàn kết nội bộ ấy. 

Sau hai cuộc chiến tranh dài chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Việt Nam đã và đang bắt đầu công cuộc đổi mới trong thập kỉ đầu những năm 1990, Việt Nam không chỉ muốn các nước biết đến hình ảnh Việt Nam với tình thần dung cảm , ý chí kiên cường mà còn ở những khía cạnh khác như sự say mê, cần cù, sáng tạo… trong lao động, sự yêu thương và tinh thần đoàn kết của đồng bào, một Việt Nam thời kỳ đổi mới của sự năng động, của ý chí vươn lên, sẵn sàng cho hội nhập… 

Về những nguyên nhân chủ quan thì chúng ta chưa có sự chỉ đạo thống nhất, sắc bén, kịp thời về công tác TTĐN cũng như không có chính sách, chế độ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác TTĐN trong khi phương tiện, cơ sở vật chất kĩ thuật thiếu thốn. Rõ ràng là, công tác TTĐN của Việt Nam vẫn ở tình trạng yếu kém kéo dài cả về lực lượng, nội dung, hình thức thông tin. 

Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 26/04/2000 của Thủ tướng Chính phủ về “tang cường quản lý và đẩy mạnh công tác TTĐN” ra đời sau khi công tác TTĐN đã đạt được một số kết quả khả quan , Nhà nước đã dành ngân sách thích đáng cho TTĐN, đổi mới và hiện đại hóa hệ thống thông tin viễn thông và kết nối mạng Internet, đội ngũ cán bộ, cơ sở vật chất tăng cường, nhận thức của các cấp, các ngành có bước chuyển mới4. Điều này thể hiện sự phù hợp với xu thế vận dụng nguồn sức mạnh mềm trong kỷ nguyên thông tin và toàn cầu hóa của thế giới nhằm góp phần phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, công tác TTĐN của ta vẫn chưa đáp ứng được những yêu cầu đặt ra của thời đại hội nhập hiện nay nên cần phải “đẩy mạnh” hơn nữa quá trình này. 

Đến Quyết định số 79/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành kèm theo Quy chế quản lý gồm 3 chương, 13 điều đã quy định và phân công trách nhiệm rõ ràng, cụ thể hơn cho các bộ ngành liên quan. Một điểm mới cho Quyết định này là trong phần “Quy định chung” đã chính thức đưa ra khái niệm về thông tin đối ngoại. Thông tin đối ngoại gồm hai chiều: chiều thứ nhất là thông tin về Việt Nam ra thế giới và chiều thứ hai chứa đựng thông tin về thế giới vào Việt Nam. Ngày nay, dường như không có sự phân biệt rạch ròi giữa nội dung thông tin trong nước và quốc tế. Trong nội dung thông tin về tình hình quốc tế có thể hiện thái độ, lập trường, quan điểm của Việt Nam về các vấn đề quan hệ quốc tế hay thể hiện cách ứng xử và giải quyết các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm. Đồng thời, trong nội dung thông tin về tình hình tring nước cũng sẽ có những yếu tố khu vực và quốc tế có liên quan, tác động đến Việt Nam. Quyết định số 16 QĐ/TW ngày 27/12/2001 về thành lập Ban chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại, tạo điều kiện cho việc triển khai thực hiện công tác này thống nhất và tập trung hơn. Trong kết luận số 16 – KL/TW ngày 14/02/2012 của Bộ Chính trị về “Chiến lược phát triển thông tin đối ngoại giai đoạn 2011- 2020” cũng chỉ rõ. 

2. Việc nắm vững vai trò và nội dung căn bản của chính sách thông tin đối thoại có ý nghĩa như thế nào? 

Công tác thông tin đối ngoại là một bộ phận quan trọng trong công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước, đồng thời cũng là một phần không thể thiếu trong chiến lược thông tin để phục vụ lợi ích quốc gia, góp phần quan trọng đối với sự nghiệp phát triển của đất nước. Công tác thông tin đối ngoại không chỉ dừng lại trong việc truyền và nhận tin tức một cách thụ động, mà còn bao hàm cả việc phân tích, đánh giá, phát biểu quan điểm và định hướng xử lý về các thông tin liên quan đến những sự kiện trong nước và quốc tế nhằm đạt tới những mục đích cụ thể về đường lối đối nội và đối ngoại của mỗi quốc gia. 

Dưới góc độ pháp lý, Điều 6 Nghị định 72/2015/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý hoạt động thông tin đối ngoại quy định: “Thông tin đối ngoại bao gồm thông tin chính thức về Việt Nam, thông tin quảng bá hình ảnh Việt Nam và thông tin tình hình thế giới vào Việt Nam.” Trong đó, thông tin chính thức về Việt Nam là thông tin về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thông tin về tình hình Việt Nam trên các lĩnh vực; thông tin về lịch sử Việt Nam và các thông tin khác5. Thông tin quảng bá hình ảnh Việt Nam là thông tin về đất nước, con người, lịch sử văn hóa của dân tộc Việt Nam6. Thông tin tình hình thế giới vào Việt Nam là thông tin về tình hình quốc tế trên các lĩnh vực, về quan hệ giữa Việt nam với các nước và các thông tin khác nhằm thúc đẩy quan hệ chính trị, xã hội, văn hóa, quốc phòng – an ninh giữa Việt Nam với các nước, phục vụ phát triển kinh tế đất nước, thúc đẩy tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam7. Ngoài ra, thông tin đối ngoại còn bao gồm cả việc cung cấp thông tin giải thích, làm rõ, tức là những tư liệu, tài liệu, hồ sơ, lập luận nhằm giải thích, làm rõ các thông tin sai lệch về việt Nam trên tất cả các lĩnh vực8

Trong quá trình học tập tại Học viện Ngoại giao và nghề nghiệp tương lai, việc nắm vững vai trò và nội dung căn bản của chính sách thông tin đối ngoại sẽ hạn chế những thông tin sai lệch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa. Bên cạnh đó , còn dễ dàng trong việc phân tích, đánh giá, đưa ra quan điểm và định hướng xử lý về các thông tin liên quan đến những sự kiện trong nước và quốc tế nhằm đạt tới những mục đích cụ thể . 

CHƯƠNG III: SỰ CẦN THIẾT CỦA XU THẾ NGHIÊN CỨU TRUYỀN THÔNG QUỐC TẾ 

Thực tiễn và lý luận luôn song hành và hỗ trợ cho nhau để khám phá một ngành khoa học mới. TTQT cũng như vậy, trong những năm tới, các nhà khoa học và nghiên cứu TTQT tại việt Nam sẽ tập trung nghiên cứu một cách có hệ thống các nguồn thông tin như: 

– Các tin tức và bình luận quốc tế trên các phương tiện truyền thông khác nhau (như các ấn phẩm in ấn, phát thanh, truyền hình và Internet); – Một số nguồn tin (như thông cáo báo chí và báo cáo báo chí, trong đó có nhiều nguồn thông qua truy cập trực tiếp từ Internet); 

– Các hình thức truyền thông trực tiếp của hợp tác quốc tế trong phạm vi mà họ đang mở để quan sát (ví dụ các cuộc tranh luận, các cuộc họp báo: mở cửa cho báo chí và công chúng); 

– Các văn bản hợp tác quốc tế. 

Các nghiên cứu về TTQT tại Việt Nam, gồm: 

i. Nghiên cứu về các bước cơ bản của việc tạo ra một không gian thông tin liên lạc toàn cầu duy nhất; 

ii. Phân tích các chiến lược cho chính sách thông tin đối ngoại của các cường quốc hàng đầu thế giới (Nga, Mỹ, Nhật Bản,..) và các nước khu vực (Trung Quốc, Hàn Quốc,..) 

iii. Phân tích các hoạt động của chính phủ và các phương tiện truyền thông trong lĩnh vực truyền thông quốc tế; 

iv. Xem xét những triển vọng cho sự phát triển của TTQT Việt Nam trong quá trình hình thành một không gian thông tin thống nhất của khu vực và quốc tế; 

v. Nghiên cứu về vấn đề xác định chủ đề của truyền thông toàn cầu và phân tích so sánh của các hoạt động thông tin của các tổ chức này. Mục đích là nghiên cứu về mô hình và đặc điểm của sự hình thành và phát triển của cộng đồng thế giới, từ đó đưa ra chiến lược thông tin phù hợp, phục vụ mục tiêu quốc gia. Đặc biệt chú ý đến chi tiết và phân tích toàn diện các cơ sở của chính sách đối ngoại của nước CHXHCN Việt Nam , vị trí và vai trò của nước ta trong TTQT hiện đại, cũng như xem xét các tính năng chính của các phương tiện truyền thông đại chúng, chính phủ và các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực này. 

Truyền thông có ảnh hưởng rất lớn đến mọi vấn đề của xã hội. Truyền thông tác động đến nhận thức của công chúng, từ nhận thức sẽ tác động đến hành động và ứng xử của công chúng. Khi mà một ứng xử của công chúng được lặp đi lặp lại sẽ thành nề nếp, tập quán cuối cùng trở thành những chuẩn mực của xã hội. Nhờ đến truyền thông mà những vấn đề này được xã hội chấp nhận và lan truyền nhanh trong công chúng9

Truyền thông có tác động lớn đến các nhóm đối tượng lớn như sau:

Đối với chính quyền nhà nước: 

– Giúp các cơ quan nhà nước đưa thông tin đến người dân về các chính sách kinh tế, văn hóa xã hội, luật pháp đến với dân chúng, thuyết phục công chúng thay đổi về nhận thức và hành xử đúng pháp luật. Ngoài ra chính phủ cũng nhờ truyền thông để thăm dò lấy ý kiến của dư luận trước khi ban hành các văn bản pháp lý. Nhờ truyền thông mà nhà nước điều chỉnh các chính sách quản lý của mình và tạo ra sự đồng thuận cao trong dân chúng. 

– Truyền thông làm cho chính phủ, những người thừa hành pháp luật được trong sạch và minh bạch hơn, thông qua thông tin phản biện của các đối tượng dân chúng trong xã hội.

Đối với công chúng: 

– Giúp cho người dân cập nhật thông tin kinh tế văn hóa xã hội, pháp luật trong và ngoài nước. Giúp người dân giải trí và học tập về phong cách sống những người xung quanh. Truyền thông ủng hộ cái đẹp và bài trừ cái xấu. Truyền thông đóng vai trò trong việc tạo ra các xu hướng về lối sống, văn hóa, thời trang… 

– Ngoài ra truyền thông còn giúp cho người dân phản hồi, nói lên tiếng nói của mình, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của mình. 

Đối với nền kinh tế: 

– Nhờ có truyền thông mà doanh nghiệp có thể quảng bá sản phẩm và dịch vụ, giúp cho người mua nhận biết và sử dụng sản phẩm và dịch vụ. Truyền thông cũng tạo ra nhu cầu tiêu dùng sản phẩm và dịch vụ, giúp các công ty tạo ra công ăn việc làm cho nhiều người, giúp kinh tế phát triển. Hơn 90% ngân sách marketing của doanh nghiệp là sử dụng các phương tiện truyền thông để quảng cáo sản phẩm và dịch vụ để thu hút người tiêu dùng nhận biết và sử dụng sản phẩm và dịch vụ của họ; 

– Bản thân truyền thông cũng là một ngành kinh tế quan trọng của một quốc gia, giải quyết công ăn việc làm và tạo ra giá trị cho nền kinh tế; – Truyền thông cũng là công cụ giúp cho người tiêu dùng phản ánh về chất lượng sản phẩm và dịch vụ của các nhà sản xuất. 

Với vai trò quan trọng truyền thông rất lớn đối với xã hội loài người, nghiên cứu truyền thông ra đời để giúp cho truyền thông đóng góp nhiều vai trò tích cực hơn là tiêu cực. Nghiên cứu truyền là các hoạt động nghiên cứu về sự tác động của truyền thông đối với công chúng qua đó các nhà làm truyền thông có sự điều chỉnh về nội dung, hình thức và phương tiện truyền thông để tăng tính hiệu quả của việc sử dụng truyền thông đối với các vấn đề của xã hội.


TỔNG ĐÀI LUẬT SƯ 1900 0191 - GIẢI ĐÁP PHÁP LUẬT TRỰC TUYẾN MIỄN PHÍ MỌI LÚC MỌI NƠI
Tài liệu trên là tài sản của Công ty Luật LVN, chỉ được sử dụng để tham khảo, việc tự áp dụng trong mọi trường hợp sẽ dẫn đến hậu quả không mong muốn.
Để có được lời khuyên pháp lý an toàn nhất, vui lòng liên hệ Luật sư (Miễn phí 24/7) số: 1900.0191 để gặp Luật sư, Chuyên viên tư vấn pháp luật.

Bộ phận tư vấn pháp luật

Phương pháp thương lượng trong thực tiễn giải quyết tranh chấp lĩnh vực thương mại

Phương pháp thương lượng trong thực tiễn giải quyết tranh chấp lĩnh vực thương mại.

I. VỤ VIỆC THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI  BẰNG PHƯƠNG THỨC THƯƠNG LƯỢNG 

1 Tóm tắt vụ việc 

Vụ việc tranh chấp thương mại giữa Công ty TNHH Hà Bình với Công ty TNHH kinh doanh và chế biến lương thực Việt Tiến (tài liệu hồ sơ tình huống  được đính kèm tại phần Phụ lục) là vụ việc tranh chấp hợp đồng mua bán về nghĩa vụ thanh toán. Cụ thể được tóm tắt như sau: 

– Công ty TNHH Hà Bình (bên bán) với Công ty TNHH kinh doanh và  chế biến lương thực Việt Tiến (bên mua) đã hợp tác, ký hợp đồng mua bán bột  mì từ tháng 01/2017 đến 31/12/2017. Hợp đồng có giá trị hiệu lực 1 năm, ghi  nhận sự thỏa thuận các bên, tuân thủ đúng quy định của pháp luật và đúng thẩm  quyền ký kết.  

– 01/2018, hai bên tiếp tục ký hợp đồng có thời hạn 1 năm. Tuy nhiên đại  diện ký hợp đồng của bên bán không đúng thẩm quyền. 

– 03/2018, có văn bản xác nhận công nợ Công ty TNHH kinh doanh và  chế biến lương thực Việt Tiến xác nhận còn nợ công ty Hà Bình 613.000.000  đồng (Bằng chữ: sáu trăm mười ba triệu đồng). 

– 04/2018, Công ty TNHH Hà Bình yêu cầu Công ty Việt Tiến thanh toán  công nợ. Tuy nhiên, công ty Việt Tiến chỉ nêu những khó khăn của mình mà không đưa ra thời hạn thanh toán công nợ. Công ty TNHH Hà Bình dừng việc  gửi bột mỳ bắt đầu từ tháng 4/2018. 

– 06/2018, Công ty Việt Tiến yêu cầu công ty Hà Bình bồi thường thiệt hại  do đơn phương chấm dứt hợp đồng kinh tế ký ngày 5/1/2018.

Hai bên thống nhất thương lượng giải quyết tranh chấp tại văn phòng  Công ty Hà Bình ngày 30/06/2018. 

2 Quyền và nghĩa vụ các bên trên cơ sở hợp đồng ký kết 

❖ Công ty TNHH Hà Bình: 

– Công ty có quyền nhận các khoản thanh toán từ phía công ty Việt Tiến  sau khi đã giao hàng theo đúng thỏa thuận hợp đồng số 03/01/HĐ.2018/HB. – Công ty có nghĩa vụ giao hàng đúng chất lượng, số lượng, quy cách của  hàng hóa theo thỏa thuận hợp đồng, không được tự ý hủy bỏ hợp đồng khi chưa  có sự đồng ý của công ty Việt Tiến. 

– Công ty có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho Công ty Việt Tiến nếu xảy  ra các thiệt hại khi hợp đồng vô hiệu vì hợp đồng được ký không đúng thẩm  quyền của người đại diện pháp luật. 

❖ Công ty kinh doanh và chế biến lương thực Việt Tiến: 

– Công ty có nghĩa vụ thanh toán cho công ty Hà Bình bằng tiền mặt hoặc  chuyển khoản trong vòng 20 ngày kể từ ngày nhận theo từng đợt nhận hàng như  đúng hợp đồng đã ký kết. 

– Có nghĩa vụ thanh toán tiền lãi theo mức lãi suất ngân hàng trên giá trị  công nợ chậm trả. 

– Công ty có quyền yêu cầu Công ty Hà Bình thanh toán các chi phí tổn  thất khi đơn phương chấm dứt hợp đồng. 

II. BIÊN BẢN THƯƠNG LƯỢNG GHI NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA  CÁC BÊN 

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc 

BIÊN BẢN THƯƠNG LƯỢNG 

Tranh chấp hợp đồng mua bán về nghĩa vụ thanh toán 

Hôm nay, tại Văn phòng Công ty TNHH Hà Bình địa chỉ Nhà máy xay Yên Mỹ,  thị trấn Yên Mỹ, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Vào hồi 9 giờ ngày 30 tháng 6  năm 2018. Chúng tôi gồm có: 

– Đại diện Công ty TNHH Hà Bình: PHẠM HOÀNG KHÁNH   Chức vụ: Giám đốc Công ty TNHH Hà Bình 

– Đại diện Công ty kinh doanh và chế biến lương thực Việt Tiến: NGUYỄN  NGỌC TIẾN 

 Chức vụ: Giám đốc Công ty kinh doanh và chế biến lương thực Việt Tiến Đã tiến hành buổi họp thương lượng về tranh chấp hợp đồng mua bán về nghĩa  vụ thanh toán: 

1. Nội dung buổi họp thương lượng: 

1.1 Các sự kiện pháp lý liên quan đến tranh chấp thương mại 

– Ngày 05/01/2018, Công ty TNHH Hà Bình (bên bán) và Công ty kinh  doanh và chế biến lương thực Việt Tiến (bên mua) ký hợp đồng mua bán bột mì.  Tuy nhiên, đại diện theo pháp luật của bên bán ký kết hợp đồng không đúng thẩm  quyền. Ông Trần Ngọc Văn giữ chức vụ Phó Giám đốc Công ty TNHH Hà Bình,  không có sự ủy quyền của giám đốc là ông Phạm Hoàng Khánh nện không có  thẩm quyền ký kết hợp đồng trên theo Điều 63 và Điều 67 Luật Doanh nghiệp  2020. Trước đó, giấy ủy quyền của ông Phạm Hoàng Khánh cho ông Trần Ngọc  Văn đã hết thời hạn vào ngày 30/12/2017 và không có sự gia hạn thêm. 

– 03/2018, có văn bản xác nhận công nợ của công ty kinh doanh và chế biến lương thực Việt Tiến còn nợ công ty Hà Bình 613.000.000 đồng (Bằng chữ: sáu trăm mười ba triệu đồng). 04/2018, Công ty TNHH Hà Bình yêu cầu Công ty  Việt Tiến thanh toán công nợ và dừng việc gửi bột mì. Tuy nhiên, phía Công ty  Việt Tiến không đưa ra thời hạn thanh toán mà chỉ nêu ra lý do chậm thực hiện  nghĩa vụ thanh toán, không phù hợp với quy định pháp luật tại Điều 50 và 51  Luật Thương mại 2005. 

1.2 Quan điểm, ý kiến của các bên về sự kiện pháp lý dẫn đến tranh chấp – Công ty TNHH Hà Bình: 

Về việc ký hợp đồng không đúng thẩm quyền: Trong quy chế nội bộ công  ty TNHH Hà Bình việc ông Trần Ngọc Văn ký hợp đồng vẫn nằm trong phạm vi  ủy quyền trước đó và cũng đã được thông báo đến ban giám đốc và nhận được sự chấp thuận. Vì vậy, ông Trần Ngọc Văn ký hợp đồng với Quý công ty Việt Tiến  vẫn phù hợp với quy định của công ty TNHH Hà Bình. Hơn nữa, lỗi dẫn đến sơ  xuất này chúng tôi cho rằng không chỉ ở một phía mà do cả hai bên đã không rà  soát lại các văn bản pháp lý liên quan đã hết hiệu lực nên nếu có thiệt hại xảy ra,  cả hai công ty đều phải đồng chịu trách nhiệm. 

Về nghĩa vụ chậm thanh toán: chúng tôi đã nhiều lần gửi công văn nhắc nhở quý công ty nhanh chóng thanh toán công nợ và tiền lãi chậm trả, có cả bản  xác nhận công nợ hai bên đã ký. Tuy nhiên, phía công ty Việt Tiến nêu lí do  chung chung để kéo dài thời gian thanh toán công nợ, không đưa ra thời hạn cụ thể thanh toán, chúng tôi bắt buộc phải dừng việc gửi hàng hóa để đảm bảo duy  trì ngân sách của công ty. 

– Công ty kinh doanh và chế biến lương thực Việt Tiến: 

Công ty TNHH Hà Bình đã đưa người không có thẩm quyền để ký hợp  đồng với chúng tôi, lỗi này là hoàn toàn do công ty gây ra, ký hợp đồng với  chúng tôi mà không có sự ủy quyền của người có thẩm quyền . Nếu vụ tranh  chấp này không thương lượng thỏa đáng, hợp đồng sẽ bị vô hiệu và phía công ty Hà Bình sẽ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại gây ra cho  chúng tôi. 

Chúng tôi đã đưa ra kế hoạch thanh toán công nợ cho quý công ty Hà  Bình, cụ thể là trong mùa vụ tiếp theo thuận lợi và kết thúc đầu tư ưa ưởng  mới vào hoạt động, chúng tôi sẽ có điều kiện để rút ngắn thời gian thanh toán. Lý  do chậm thanh toán công nợ chúng tôi đưa ra hoàn toàn chính đáng: vì vừa phải  đối phó với biến động giá vật tư, nguyên liệu, vừa triển khai đầu tư mở rộng sản  xuất và thị trường mì ăn liền tiêu thụ đang rất chậm nên mới ảnh hưởng đến tiến  độ thanh toán công nợ với quý công ty.  

Hơn nữa, việc không tiếp tục giao hàng của Quý công ty từ tháng 04/2018  dẫn đến rất nhiều thiệt hại cho chúng tôi. Chúng tôi vẫn phải trả lương cho công  nhân, phải trả nợ ngân hàng và phải chịu tiền mua chênh lệch giá bột mì của  công ty khác nên chúng tôi không đồng ý. Yêu cầu phía công ty Hà Bình tiếp tục  thực hiện hợp đồng.  

1.3 Các giải pháp, phương án được các bên đề xuất 

– Công ty TNHH Hà Bình: Trên tinh thần hợp tác lâu dài của hai công ty  chúng tôi đề xuất việc chấp nhận hiệu lực của hợp đồng số 03/01/HĐ.2018/HB; đồng thời ký hợp đồng mới thể hiện những thỏa thuận của các bên, đúng thẩm  quyền và đúng trình tự của pháp luật. Tuy nhiên, Công ty Việt Tiến bắt buộc  phải thanh toán công nợ và tiền lãi trên giá trị chậm trả trong vòng 3 tháng tới để phía công ty chúng tôi có đủ kinh phí cung cấp bột mì cho quý công ty. 

– Công ty kinh doanh và chế biến lương thực Việt Tiến: chúng tôi đồng ý  với phương án ký hợp đồng mới và chấp nhận hiệu lực hợp đồng cũ như phía  Công ty TNHH Hà Bình đề xuất. Về phần nghĩa vụ thanh toán, hiện nay chúng  tôi đang gặp phải rất nhiều khó khăn vì trong 3 tháng vừa qua, công ty không gửi bột mì dẫn đến thiệt hại ước tính 400.000.000 như trong Công Văn số 06-11/04/VT đã nêu rõ. Vì vậy chúng tôi đề nghị quý công ty gia hạn thời hạn thanh  toán công nợ và tiền lãi chậm trả là 06 tháng. 

2. Kết quả buổi họp thương lượng 

Sau khi có sự trao đổi thỏa thuận, hai bên đã thống nhất về những nội  dung như sau: 

– Chấp nhận hiệu lực hợp đồng số 03/01/HĐ.2018/HB 

– Hai bên ký hợp đồng mới thể hiện những thỏa thuận của các bên, đúng thẩm quyền và đúng trình tự của pháp luật vào ngày 01/07/2018. – Công ty kinh doanh và chế biến lương thực Việt Tiến sẽ phải thanh  toán công nợ cho Công ty TNHH Hà Bình tính đến tháng 03/2018 là  617.000.000 đồng. Thời hạn thanh toán là 04 tháng. Tiền lãi trên giá trị chậm trả, công ty Việt Tiến không phải thanh toán để bù đắp một phần  thiệt hại xảy ra. 

3. Điều khoản thực hiện 

Các bên thực hiện cam kết theo như đúng thỏa thuận và thời gian nêu  trong kết quả buổi họp thương lượng. Nếu một trong các bên không thực hiện  đúng thỏa thuận thương lượng thì tranh chấp sẽ đưa ra Tòa án nhân dân để giải  quyết. 

Biên bản được hoàn thành vào hồi 12 giờ, ngày 30 tháng 06 năm 2018. Biên bản này được lập thành 02 bản, mỗi bên giữ một bản. 

Hưng Yên, ngày 30 tháng 06 năm 2018 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1. Luật Doanh nghiệp 2020; 

2. Luật Thương mại 2005.

III. Hợp đồng mua bán bột mì 1

CÔNG TY TNHH HÀ BÌNH
T.T YÊN MỸ – H. YÊN MỸTỈNH HƯNG YÊN
Số: 03/01/HĐ.2018/HB
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

HỢP ĐỒNG MUA BÁN BỘT MÌ 

– Căn cứ Bộ luật dân sự năm 2015; 

– Căn cứ Luật thương mại 2005; 

– Căn cứ Luật trọng tài thương mại 2010; 

– Căn cứ vào sự thỏa thuận của hai bên  

Hôm nay ngày 05/01/2018 

Các bên gồm có: 

I. Bên bán: Công ty TNHH Hà Bình (Bên A) 

Đại diện: ông Trần Ngọc Văn Chức vụ: Phó Giám Địa chỉ: thị trấn Yên Mỹ, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên Điện thoại: 0321.963177 – 0321.964425 Fax: 0321.964834 

đốc 

Tài khoản: Số 111.10132836.01.0 tại Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ  thương Việt Nam, thành phố Hà Nội 

Mã số thuế: 0900181214 – 1 

II. Bên mua: Công ty kinh doanh và chế biến lương thực Việt Tiến (Bên B) 

Đại diện: ông Nguyễn Ngọc Tiến Chức vụ: Giám đốc 

Địa chỉ: Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội 

Điện thoại: 04.8766750 Fax: 04.8767431 

Tài khoản: 4311.01.000046 tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông  thôn Việt nam, Hà Nội 

Mã số thuế: 0100508975 – 1 

Sau khi bàn bạc, hai bên đã thống nhất ký hợp đồng mua bán hàng hóa với  các điều khoản sau: 

Điều 1. Hàng hóa, số lượng, giá cả 

– Hàng hóa – Bột mì. 

– Số lượng: 300 tấn/tháng

– Giá cả: theo giá thị trường từng thời điểm do hai bên thỏa thuận và được  thể hiện trên Hóa đơn GTGT bên A xuất cho bên B. 

Điêu 2. Giao hàng, quy cách, phẩm chất hàng hóa 

– Giao hàng: hàng được giao tại kho bên A. Bốc xếp mỗi bên chịu một đầu.

– Quy cách: bột mì được đóng trong bao PP trọng lượng tịnh 40kg/bao

– Phẩm chất: theo thỏa thuận của hai bên 

Điều 3. Hình thức hợp đồng 

Bên B thanh toán cho bên A bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản trong vòng 20  ngày kể từ ngày nhận theo từng đợt nhận hàng. Nếu chậm trả phải chịu mức lãi suất theo ngân hàng trên giá trị chậm trả. 

Điều 4. Thời hạn thanh toán 

Hợp đồng có giá trị thực hiện từ tháng 01/2018 đến 31/12/2018 

Điều 5. Cam kết chung 

Hai bên cam kết thực hiện đúng theo những điều khoản đã ký trong hợp  đồng. Trong quá trình thực hiện nếu có phát sinh cần sửa đổi, bổ sung hay trở ngại  gì thì hai bên cùng nhau bàn bạc cụ thể để làm phụ lục hợp đồng, không bên nào  được quyền tự hủy bỏ hợp đồng. Nếu có xảy ra tranh chấp mà hai bên không giải quyết được bằng thương lượng thì sẽ đưa ra Tòa án kinh tế tỉnh Hưng Yên để giải  quyết. 

Hợp đồng được thành lập 4 bản, mỗi bên giữ 2 bạn có giá trị pháp lý như nhau. 

ĐẠI DIỆN BÊN B ĐẠI DIỆN BÊN A 

(đã ký, đóng dấu) (đã ký, đóng dấu) 


IV. Hợp đồng mua bán bột mì 2

CÔNG TY TNHH HÀ BÌNH
T.T YÊN MỸ – H. YÊN MỸTỈNH HƯNG YÊN
Số: 03/01/HĐ.2017/HB
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

HỢP ĐỒNG MUA BÁN BỘT MÌ 

– Căn cứ Bộ luật dân sự năm 2015; 

– Căn cứ Luật thương mại 2005; 

– Căn cứ Luật trọng tài thương mại 2010; 

– Căn cứ vào sự thỏa thuận của hai bên  

Hôm nay, ngày 5/1/2017, Các bên gồm có: 

III. Bên bán: Công ty TNHH Hà Bình (Bên A) 

Đại diện: ông Trần Ngọc Văn Chức vụ: Phó Giám đốc Địa chỉ: thị trấn Yên Mỹ, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên 

Điện thoại: 0321.963177 – 0321.964425 Fax: 0321.964834 Tài khoản: Số 111.10132836.01.0 tại Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ  thương Việt Nam, thành phố Hà Nội 

Mã số thuế: 0900181214 – 1 

IV. Bên mua: Công ty kinh doanh và chế biến lương thực Việt Tiến (Bên B) 

Đại diện: ông Nguyễn Ngọc Tiến Chức vụ: Giám đốc 

Địa chỉ: Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội 

Điện thoại: 04.8766750 Fax: 04.8767431 

Tài khoản: 4311.01.000046 tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông  thôn Việt nam, Hà Nội 

Mã số thuế: 0100508975 – 1 

Sau khi bàn bạc, hai bên đã thống nhất ký hợp đồng mua bán hàng hóa với  các điều khoản sau: 

Điều 1. Hàng hóa, số lượng, giá cả 

– Hàng hóa – Bột mì. 

– Số lượng: 300 tấn/tháng 

– Giá cả: theo giá thị trường từng thời điểm do hai bên thỏa thuận và được  thể hiện trên Hóa đơn GTGT bên A xuất cho bên B. 

Điêu 2. Giao hàng, quy cách, phẩm chất hàng hóa

– Giao hàng: hàng được giao tại kho bên A. Bốc xếp mỗi bên chịu một đầu. – Quy cách: bột mì được đóng trong bao PP trọng lượng tịnh 40kg/bao – Phẩm chất: theo thỏa thuận của hai bên 

Điều 3. Hình thức thanh toán 

Bên B thanh toán cho bên A bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản trong vòng 20  ngày kể từ ngày nhận theo từng đợt nhận hàng. Nếu chậm trả phải chịu mức lãi suất  theo ngân hàng trên giá trị chậm trả. 

Điều 4. Thời hạn hợp đồng 

Hợp đồng có giá trị thực hiện từ tháng 01/2017 đến 31/12/2017 

Điều 5. Cam kết chung 

Hai bên cam kết thực hiện đúng theo những điều khoản đã ký trong hợp  đồng. Trong quá trình thực hiện nếu có phát sinh cần sửa đổi, bổ sung hay trở ngại  gì thì hai bên cùng nhau bàn bạc cụ thể để làm phụ lục hợp đồng, không bên nào  được quyền tự hủy bỏ hợp đồng. Nếu có xảy ra tranh chấp mà hai bên không giải  quyết được bằng thương lượng thì sẽ đưa ra Tòa án kinh tế tỉnh Hưng Yên để giải  quyết. 

Hợp đồng được thành lập 4 bản, mỗi bên giữ 2 bạn có giá trị pháp lý như nhau. 

ĐẠI DIỆN BÊN B ĐẠI DIỆN BÊN A 

Giám đốc Phó Giám đốc 

(đã ký, đóng dấu) (đã ký, đóng dấu) 


V. Giấy uỷ quyền

CTY TNHH HÀ BÌNH
NM BỘT MỲ YÊN MỸ- HƯNG YÊN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Hưng Yên, ngày 15 tháng 03 năm 2016 

GIẤY ỦY QUYỀN 

  • Căn cứ quyết định số: 42/QĐ-UB ngày 13/01/2000 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên cấp về việc thành lập Công ty TNHH Hà Bình 
  • Căn cứ vào tình hình hiện tại của Công ty. 

Tôi tên là: PHẠM HOÀNG KHÁNH 

Chức vụ: Giám đốc Công ty TNHH Hà Bình 

Trụ sở: Nhà máy xay Yên Mỹ, thị trấn Yên Mỹ, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên 

Nay ủy quyền cho: 

Ông: TRẦN NGỌC VĂN 03 

Nơi công tác: Công ty TNHH Hà Bình 

Chức vụ: Phó Giám đốc 

Trụ sở: Nhà máy xay Yên Mỹ, thị trấn Yên Mỹ, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên 

Nội dung ủy quyền: 

Thay mặt tôi ký kết các hợp đồng kinh tế, Hợp đồng tín dụng, các văn bản  pháp lý liên quan đến việc tổ chức điều hành và kinh doanh của Công ty TNHH Hà  Bình 

Địa chỉ: Nhà máy xay Yên Mỹ, thị trấn Yên Mỹ, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên 

Thời hạn ủy quyền: từ ngày 15/03/2016 đến ngày 30/12/2017  

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung ủy quyền trên. 

CHỮ KÝ CỦA NGƯỜI ĐƯỢC ỦY QUYỀN CHỮ KÝ CỦA NGƯỜI ỦY QUYỀN


VI. Bản xác nhận công nợ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc 

BẢN XÁC NHẬN CÔNG NỢ 

(Giữa Công ty TNHH Hà Bình và Công ty Kinh doanh và chế biến lương thực Việt Tiến) 

Tính đến tháng 3/2018, Công ty kinh doanh và chế biến lương thực Việt  Tiến xác nhận còn nợ công ty Hà Bình 613.000.000 đồng (Bằng chữ: sáu trăm  mười ba triệu đồng). 

Biên bản được lập thành 02 bản, mỗi bên giữ 01 bản. 

Hưng Yên, ngày 31/3/2018 

Công ty TNHH Hà Bình Công ty Việt Tiến


VII. Công văn đề nghị thanh toán công nợ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc 

Kính gửi: Công ty TNHH KD và CB lương thực Việt  

Tiến V/v thanh toán công nợ 

Căn cứ vào tình hình công nợ của Công ty kinh doanh và chế biến lương  thực Việt Tiến còn nợ công ty TNHH Hà Bình theo bản hợp đồng kinh tế của từng  năm giữa hai công ty tính đến nay số tiền còn nợ đọng là 617.000.000 đồng quá hạn  đã lâu, mức độ thanh toán quá chậm. Bắt đầu từ tháng 4/2018, công ty chúng tôi sẽ  không giao hàng cho công ty Việt Tiến do công ty Việt Tiến còn nợ nhiều tiền hàng  chưa thanh toán. Chúng tôi yêu cầu công ty Viết Tiến phải trả nợ gốc và tiền lãi  phát sinh trên số tiền chậm thanh toán từ tháng 4/2018. 

Hai bên đã thống nhất nội dung với nhau về việc thanh toán trả nợ của  Công ty kinh doanh và chế biến lương thực Việt Tiến trả tiền cho công ty TNHH  Hà Bình và có cụ thể trả lời bằng văn bản với Công ty TNHH Hà Bình. Nhưng đến  nay công ty TNHH Hà Bình chúng tôi vẫn chưa nhận được văn bản trả lời của Quý  Công ty. 

Trên tinh thần hợp tác chúng tôi mong nhận được sự trả lời của Quý Công ty. 

Ngày 04 tháng 4 năm 2018 

CÔNG TY TNHH HÀ BÌNH 

GIÁM ĐỐC


VIII. Công văn trả lời thanh toán công nợ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2018 

Kính gửi: Ông Giám đốc Công ty TNHH bột mì Hà Bình 

Đầu tiên tôi xin gửi tới Ông và toàn thể Quý Công ty lời chúc sức khỏe và  lời chào trân trọng nhất, thay mặt Công ty Việt Tiến tôi xin chân thành cảm ơn Quý  Công ty về sự hợp tác và giúp[ đỡ của Quý Công ty đối với Công ty chúng tôi trong  thời gian qua. 

Sau khi bàn bạc Công ty chúng tôi xin đề nghị với Quý Công ty về kế  hoạch thanh toán. Tại thời điểm này thị trường mì ăn liền tiêu thụ đang rất chậm,  Quý Công ty hầu như đều bị giảm sản lượng trong đó có Công ty Việt Tiến vì vậy  ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất kinh doanh của Công ty Việt Tiến chúng tôi. Như  đã trao đổi với Quý Công ty về tình hình hoạt động của Công ty Việt Tiến trong  thời gian qua: vừa phải đối phó với biến động giá vật tư, nguyên liệu, vừa triển khai  đầu tư mở rộng sản xuất làm ảnh hưởng đến tiến độ thanh toán công nợ với Quý  Công ty. Với số công nợ còn lại của Quý Công ty, chúng tôi sẽ thanh toán dần hàng  tháng tùy theo điều kiện sản xuất kinh doanh và khả năng cho phép. 

Thưa Quý công ty trong thời gian tới khi mùa vụ thuận lợi và kết thúc đầu tư đưa xưởng mới vào hoạt động, chúng tôi sẽ có điều kiện để rút ngắn thời gian  thanh toán cho Quý Công ty và cụ thể nếu trong kỳ có điều kiện thuận lợi. 

Việc không giao hàng tiếp tục của Qúy công ty từ tháng 4/2018 dẫn đến các  thiệt hại cho chúng tôi. Chúng tôi vẫn phải trả lương cho công nhân, phải trả nợ ngân hàng và phải chịu tiền mua chênh lệch giá bột mì của công ty khác nên chúng  tôi không đồng ý. 

Trên tinh thần hợp tác chúng tôi mong nhận được sự trả lời của Quý Công  ty và yêu cầu công ty tiếp tục giao hàng cho chúng tôi 

CÔNG TY KD CBLT VIỆT TIẾN 

GIÁM ĐỐC 


IX. Công văn đề xuất thanh toán công nợ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc 

Kính gửi: Công ty TNHH KD và CB lương thực Việt Tiến

V/v thanh toán công nợ 

Căn cứ vào tình hình công nợ của Công ty kinh doanh và chế biến lương  thực Việt Tiến còn nợ công ty TNHH Hà Bình theo Bản hợp đồng kinh tế của từng  năm giữa hai công ty tính đến nay số tiền còn nợ đọng quá hạn đã lâu, mức độ  thanh toán quá chậm. 

Theo nội dung công văn số 04 thì Công ty TNHH Hà Bình chúng tôi không  thể chấp nhận được với nội dung chung chung không cụ thể về vấn đề trả nợ, làm  cho Công ty Hà Bình không thể xác định việc thu tiền và trả các khoản nợ đến hạn  của Công ty chúng tôi. Chúng tôi không chịu trách nhiệm gì đối với các thiệt hại  của công ty Việt Tiến bởi vì hợp đồng kinh tế ngày 5/1/2018 không phải do giám đốc của công ty Việt Tiến ký kết. 

Vì vậy, chúng tôi xin thông báo với Quý Công ty đến thương lượng, làm  việc tại Văn phòng công ty chúng tôi vào ngày 30/6/2018. 

Trân trọng kính chào. 

Ngày 10 tháng 06 năm 2018 

CÔNG TY TNHH HÀ BÌNH


X. Công văn từ chối thanh toán công nợ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Kính gửi: Công ty TNHH Hà Bình 

Theo công văn gần đây nhất chúng tôi đã nói rõ những khó khăn trong  sản xuất kinh doanh và có thiện chí sẽ tiếp tục thanh toán dần khoản nợ cũ. Nay Công ty chúng tôi nhận được Công văn số 08/11-HB của Quý  Công ty. Chúng tôi xin được thông báo: 

– Tiền lãi do chậm thanh toán tiền hàng chúng tôi không có trách nhiệm phải trả. 

– Yêu cầu công ty Hà Bình bồi thường thiệt hại cho chúng tôi do đơn  phương chấm dứt hợp đồng kinh tế ký ngày 5/1/2018. Các thiệt hại cụ thể gồm  có: 

– Trả lương cho cán bộ nhân viên 

– Đóng BHXH, BHYT 

– Khấu hao tài sản cố định 

– Trả lãi vay ngân hàng 

– Tiền chênh lệch giá mua bột mì 

Tổng cộng các thiệt hại ước tính 400.000.000 đồng. 

Công ty chúng tôi sẽ đến thương lượng giải quyết tranh chấp với công  ty Hà Bình theo Công văn số 08/11-HB. 

CÔNG TY KD CBLT VIỆT TIẾN


TỔNG ĐÀI LUẬT SƯ 1900 0191 - GIẢI ĐÁP PHÁP LUẬT TRỰC TUYẾN MIỄN PHÍ MỌI LÚC MỌI NƠI
Tài liệu trên là tài sản của Công ty Luật LVN, chỉ được sử dụng để tham khảo, việc tự áp dụng trong mọi trường hợp sẽ dẫn đến hậu quả không mong muốn.
Để có được lời khuyên pháp lý an toàn nhất, vui lòng liên hệ Luật sư (Miễn phí 24/7) số: 1900.0191 để gặp Luật sư, Chuyên viên tư vấn pháp luật.

Bộ phận tư vấn pháp luật

Phân tích các nguyên tắc của kinh doanh bất động sản, đánh giá thực tiễn

Phân tích các nguyên tắc của kinh doanh bất động sản, đánh giá thực tiễn.

Thị trường bất động sản được biết đến là một trong những thị trường quan trọng có tầm ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế thị trường vì bất động sản là những tài sản có giá trị lớn về mặt kinh tế. Có thể nói rằng thị trường bất động sản là một trong những thị trường khó gia nhập, bao gồm các giao dịch về bất động sản được thực hiện thông qua quan hệ hàng hoá tiền tệ. “Kinh doanh bất động sản là việc đầu tư vốn để thực hiện hoạt động xây dựng, mua, nhận chuyển nhượng để bán, chuyển nhượng; cho thuê, cho thuê lại, cho thuê mua bất động sản; thực hiện dịch vụ môi giới bất động sản; dịch vụ sàn giao dịch bất động sản; dịch vụ tư vấn bất động sản hoặc quản lý bất động sản nhằm mục đích sinh lợi”- Khoản 1 Điều 3 Luật kinh doanh bất động sản 2014 sửa đổi bổ sung 2020. Để thực hiện tốt hoạt động kinh doanh bất động sản đòi hỏi pháp luật phải đặt ra những nguyên tắc chung, thống nhất. Điều 4 Luật KDBĐS quy định bốn nguyên tắc trong kinh doanh bất động sản như sau:

Một là, Bình đẳng trước pháp luật, tự do thoả thuận trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên thông qua hợp đồng, không trái quy định của pháp luật.

Nguyên tắc đầu tiên cũng là nguyên tắc mang tính tiên quyết trong hoạt động kinh doanh bất động sản. Nội dung của nó thể hiện tất cả các chủ thể tham gia vào thị trường bất động sản, không phân biệt doanh nghiệp tư nhân hay nhà nước, doanh nghiệp trong nước hoặc nước ngoài, tất cả đều được Nhà nước đối xử bình đẳng về quyền và nghĩa vụ khi tham gia kinh doanh bất động sản, miễn là họ có đủ điều kiện tham gia theo quy định của pháp luật. Theo đó, Điều 10[1] Luật KDBĐS quy định điều kiện của tổ chức, cá nhân kinh doanh bất động sản. Trong một sân chơi là thị trường BĐS, luật chơi chính là Luật KDBĐS, người chơi là các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia vào thì tất cả đều có sự bình đẳng trước pháp luật. Bởi pháp luật là cán cân công lý, không có sự thiên vị bất kì ai. Quan hệ bình đẳng giúp các bên cạnh tranh một cách công bằng, lành mạnh, không có tiêu cực. Chỉ có môi trường lành mạnh thì các cá nhân, tổ chức mới kinh doanh phát triển mạnh mẽ và bền vững.

Việc tự do thoả thuận trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên thông qua hợp đồng và không trái pháp luật cũng là nội dung quan trọng trong nguyên tắc đầu tiên này. Bản chất của các giao dịch liên quan đến BĐS thực chất là sự thoả thuận về nội dung của các chủ thể. Các chủ thể được tự do ý chí để thoả thuận những gì mình mong muốn trong phạm vi không trái với các quy định của pháp luật. Có thể nói bất động sản là một thị trường mở, mỗi cá nhân, tổ chức tham gia vào thị trường đều có nhu cầu của riêng mình như chọn bất động sản phù hợp với mệnh, gia carnh, phong thuỷ,…do đó họ có quyền phát triển, lựa chọn những lối đi riêng. Việc này cũng góp phần tạo nên một thị trường sôi động hơn, thôi thúc và phát triển nền kinh tế nước nhà.

Cùng với sự phát triển của thị trường và nền kinh tế, hoạt động kinh doanh bất động sản (BĐS) là một hoạt động tất yếu và khách quan. Thời gian qua, sau đợt suy thoái của thị trường BĐS bắt đầu từ năm 2011 thì giai đoạn từ năm 2015-2020 là giai đoạn phục hồi, phát triển của thị trường. Giai đoạn này ghi nhận hoạt động kinh doanh BĐS diễn ra sôi nổi và đạt hiệu quả cao, nhiều khu quy hoạch, dự án đầu tư của tỉnh và chính phủ kéo theo sự quan tâm và thị hiếu của nhà đầu tư khiến thị trường biến động mạnh. Hiện nay các chủ thể thực hiện khá tốt nguyên tắc này do phải chịu chi phối của nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, vẫn có những quy định chưa đồng nhất về chủ thể trong các văn bản. Ví dụ: Theo khoản 1 Điều 10 Luật KDBĐS 2014 thì tổ chức, cá nhân kinh doanh bất động sản phải có vốn pháp định không thấp hơn 20 tỷ đồng. Nếu hiểu kinh doanh bất động sản bao gồm cả kinh doanh dịch vụ bất động sản thì hành vi thứ 2 cũng phải thỏa mãn yêu cầu về vốn pháp định. Tuy nhiên, theo điểm b khoản 1 Điều 3 Nghị định 76/2015/NĐ-CP ngày 10/9/2015 về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật KDBĐS 2014 thì tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ bất động sản không bị buộc phải có vốn pháp định. Rõ ràng, đây là sự nhầm lẫn do khi ghép khái niệm kinh doanh bất động sản và kinh doanh dịch vụ bất động sản mà các nhà soạn thảo không tính đến nên phải giải thích trong nghị định hướng dẫn thi hành.

Hai là, bất động sản đưa vào kinh doanh phải đáp ứng các điều kiện do luật định.

Điều 9[2] Luật KDBĐS 2014 quy định điều kiện của bất động sản được đưa vào kinh doanh. Đây là nguyên tắc cơ bản và cần thiết bởi đó là quy định tối thiểu và cần có để chứng minh mình là chủ sở hữu của BĐS được đưa vào giao dịch, chứng minh tình trạng pháp lý của tài sản sẽ đảm bảo an toàn cho các bên giao dịch đồng thời việc quy định quyền sử dụng đất không bị tranh chấp giúp giải quyết các vấn đề rắc rối có thể phát sinh khi thi hành án. Nguyên tắc này nhằm tạo môi trường đầu tư an toàn cho các nhà đầu tư kinh doanh bất động sản bởi đối tượng được đưa vào kinh doanh là phù hợp và được pháp luật công nhận.

Trên thực tế đa số các BĐS đưa vào kinh doanh đã đáp ứng đủ theo điều kiện luật định và pháp luật quy định cũng khá chặt chẽ. Tuy nhiên vẫn còn nhiều loại BĐS mà hiện nay pháp luật đang vướng mắc trong việc hoàn thiện quy định pháp lý để đưa vào kinh doanh như cấp giấy chứng nhânj quyền sở hữu cho bất động sản du lịch (codotel) hay căn hộ văn phòng (officetel),…Về điều kiện để bất động sản hình thành trong tương lai được bán cũng đang là một vấn đề đáng quan tâm, pháp luật quy định phải có bảo lãnh của ngân hàng, có rất nhiều dự án triển khai mua bán bất động sản hình thành trong tương lai nhưng không có sự bảo lãnh chính thức từ phía ngân hàng. Nguyên nhân bởi một số chủ đầu tư cho rằng là do vướng mắc trong khâu thẩm định năng lực tài chính và tài sản thế chấp của doanh nghiệp, đồng thời các ngân hàng e ngại bảo lãnh cho dự án nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai tồn đọng nhiều rủi ro.

Ba là Kinh doanh bất động sản phải trung thực, công khai, minh bạch

Thị trường bất động sản là thị trường không hoàn hảo bởi cung chậm hơn cầu, BĐS lại mang tính cá biệt và loại hình KDBĐS liên quan đến tài sản lớn, tiềm ẩn nguy cơ có khả năng lừa đảo cao, đặc biệt là BĐS hình thành trong tương lai. Do đó, hoạt động kinh doanh bất động sản cần phải trung thực và chính xác, đầy đủ thông tin, rõ ràng và khách quan tránh tình trạng tạo ra thông tin để lừa đảo khách hàng. Khi thực hiện các giao dịch BĐS các chủ thể phải có thái độ đúng đắn, thành thật về BĐS là đối tượng giao dịch. Luôn luôn công khai và có thái độ đúng đắn, không che giấu, cố gắng lấp liếm, tạo thông tin giả về BĐS đề trục lợi cá nhân. Công khai minh bạch về dự án, hồ sơ pháp lý, giấy tờ kèm theo, chủ thể kinh doanh, BĐS,..mặt khác cũng cần phải trung thực đối với cơ quan nhà nước khi tiến hành làm thủ tục hành chính, cần khai báo chính xác những số liệu có liên quan đến BĐS. Nguyên tắc này mang đến cho chủ thể những lợi thế để gia nhập thị trường, có những giao dịch BĐS như mong muốn. Đồng thời góp phần tạo nên một môi trườnh kinh doanh lành mạnh, các chủ thể có thể tìm hiểu một cách nhanh chóng và tình hình của thị trường, từ đó đưa ra những phương án phù hợp cho những mục tiêu, chiến lược của mình. Đặc biệt, môt môi trường an toàn và đáng tin cậy sẽ thu hút các nguồn đầu tư lớn, xây dựng một thị trường rộng mở.

Thời gian qua, tình trạng đồn thổi, thiếu minh bạch trong BĐS gây ra tình trạng đẩy giá bất động sản lên cao, tạo bong bóng trên thị trường và gây tâm lý bất ổn cho người dân, gây nhiễu loạn hoạt động quản luý, điều hành của cơ quan nhà nước, đồng thời để lại nhiều hệ luỵ xấu cho thị trường BĐS cũng như đối với các vấn đề an ninh, trật tự xã hội. Hàng loạt cơn sốt đất bất thường xảy ra không chỉ đối với các thành phố lớn như Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, mà ngay cả tại các địa phương vốn không có thế mạnh về thị trường BĐS như Hưng Yên, Bắc Giang,… giá đất cũng tăng cao chóng mặt. Thực tế, qua các cuộc kiểm toán về công tác quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên, tình trạng thiếu công khai, minh bạch trong quy hoạch sử dụng đất đã nhiều lần được kiểm toán nhà nước chỉ ra và yêu cầu chấn chỉnh. Tuy nhiên, do sự thiếu quyết liệt, thiếu giải pháp hữu hiệu của các địa phương, dẫn đến tình trạng này vẫn tồn tại. Một nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó là do chưa có sự đồng bộ về mặt thông tin, tình trạng đầu cơ BĐS, lực lượng môi giới BĐS đã lợi dụng sơ hở đó để thổi giá nhằm thu lợi bất chính, trái quy định của pháp luật.

Bốn là, Tổ chức cá nhân có quyền kinh doanh bất động sản tại khu vực ngoài phạm vi bảo vệ quốc phòng, an ninh theo quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt

Mỗi một quốc gia đều có khu vực bảo vệ an ninh quốc phòng nắm giữ bí mật kinh tế quân sự, những vấn đề then chốt của một quốc gia. Có thể nói đây là những khu vực quan trọng ảnh hưởng đến sự tồn tại của quốc gia đó, ảnh hưởng đến đời sống vật chất và nền kinh tế của toàn thể dân cư. Do đó, các chủ thể không được phép kinh doanh BĐS trong khu vực này là hợp lý. Nguyên tắc này tạo ra sự thống nhất cho các chủ thể khác nhau. Từ đó sẽ kèm theo là sự đơn giản khi thực hiện các thủ tục, tạo ra sự gọn nhẹ khi thực hiện khi có hoạt động giám sát, kiểm sát hoạt động. Mục đích của nguyên tắc cuối cùng này là đảm bảo sự hoà bình ổn định của an ninh quốc phòng nước nhà bởi đi cùng với sự mạnh mẽ của nền kinh tế chính là an nguy của chính trị cũng như an ninh quốc gia. Bất kì cá nhân, tổ chức nào vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định pháp luật. Còn những bất động sản khác sẽ được tự do trong vòng hoạt động kinh doanh của mình, hơn nữa khi xác định nó thuộc hay không thuộc loại bất động sản phục vụ cho mục đích an ninh quốc phòng thì sẽ an toàn cho các chủ thể tiến hành kinh doanh, không bị thiệt hại xảy ra khi có sự thay đổi. Hiện nay, cá nhân và tổ chức kinh doanh BĐS đúng theo tinh thần của pháp luật. Tuy nhiên một thực tế còn tồn đọng đó là công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất vẫn còn lộ ra rất nhiều những bất cập trong lý luận cũng như thực tiễn, gây ảnh hưởng đến sự phân bổ và sự phát triển của thị trường BĐS. Thẩm quyền trong công tác này được quy định khá mờ nhạt, cụ thể tại khoản 2 Điều 21 Luật đất đai 2013 tạo ra nhiều kẽ hở để cơ quan có thẩm quyền tự do thao túng quyền lực. Thực trạng thời gian giải toả, thu hồi đất phục vụ cho công tác quốc phòng và an ninh lại tỉ lệ nghịch với thời gian tiền đền bù được tới tay người dân. Ngoài ra, đa số các chủ thể đều có ý thức tìm hiểu và khai thác thông tin, chấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật trước khi kinh doanh.


[1] Điều 10. Điều kiện của tổ chức, cá nhân kinh doanh bất động sản

1. Tổ chức, cá nhân kinh doanh bất động sản phải thành lập doanh nghiệp hoặc hợp tác xã (sau đây gọi chung là doanh nghiệp) và có vốn pháp định không được thấp hơn 20 tỷ đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua bất động sản quy mô nhỏ, không thường xuyên thì không phải thành lập doanh nghiệp nhưng phải kê khai nộp thuế theo quy định của pháp luật.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”

[2] Điều 9. Điều kiện của bất động sản đưa vào kinh doanh

  1. Nhà, công trình xây dựng đưa vào kinh doanh phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có đăng ký quyền sở hữu nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất trong giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất. Đối với nhà, công trình xây dựng có sẵn trong dự án đầu tư kinh doanh bất động sản thì chỉ cần có giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai;

b) Không có tranh chấp về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất;

c) Không bị kê biên để bảo đảm thi hành án.

2. Các loại đất được phép kinh doanh quyền sử dụng đất phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai;

b) Không có tranh chấp về quyền sử dụng đất;

c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

d) Trong thời hạn sử dụng đất.


TỔNG ĐÀI LUẬT SƯ 1900 0191 - GIẢI ĐÁP PHÁP LUẬT TRỰC TUYẾN MIỄN PHÍ MỌI LÚC MỌI NƠI
Tài liệu trên là tài sản của Công ty Luật LVN, chỉ được sử dụng để tham khảo, việc tự áp dụng trong mọi trường hợp sẽ dẫn đến hậu quả không mong muốn.
Để có được lời khuyên pháp lý an toàn nhất, vui lòng liên hệ Luật sư (Miễn phí 24/7) số: 1900.0191 để gặp Luật sư, Chuyên viên tư vấn pháp luật.

Bộ phận tư vấn pháp luật

Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong TTDS

Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong TTDS.

Trong quá trình tòa án giải quyết vụ việc dân sự, bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự luôn luôn là mục tiêu được Toà án nhân dân coi trọng và hướng đến. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, quyền dân sự của con người ngày càng được mở rộng, kinh tế xã hội phát triển không ngừng, các tranh chấp phát sinh ngày càng đa dạng. Trên thực tế, vì lợi ích của mình hoặc do thiếu thiện chí, nhiều người có hành vi tẩu tán tài sản, hủy hoại hoặc xâm phạm chứng cứ, mua chuộc người làm chứng,…Vì vậy, đôi khi tòa án phải quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT) là những biện pháp cần thiết để giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ bằng chứng hoặc đảm bảo thi hành án. Bộ luật TTDS 2015 đã bổ sung thêm một số biện pháp khẩn cấp tạm thời mới phù hợp với các văn bản pháp luật khác có liên quan và thực tiễn giải quyết các vụ việc dân sự. Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng các quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời của các Tòa án nhân dân còn nhiều hạn chế, bất cập.

I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

1.1 Khái niệm áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự

          Biện pháp khẩn cấp tạm thời là biện pháp tòa án quyết định áp dụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ bằng chứng, bảo toàn tài sản tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được hoặc bảo đảm việc thi hành án.[1]

          Áp dụng BPKCTT  trong giải quyết các vụ án dân sự là việc của Tòa án xét các căn cứ, thủ tục về biện pháp khẩn cấp tạm thời để ban hành một hoặc nhiều quyết định biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc ra quyết định sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được áp dụng nhằm tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, thu nhập chứng cứ, bảo vệ chứng cứ, đảm bảo việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án.

1.2 Đặc điểm của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự

          Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là hoạt động áp dụng pháp luật nên nó có đầy đủ các đặc điểm của hoạt động áp dụng pháp luật chung như: mang tính quyền lực nhà nước, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền, mang tính cá biệt,.. Tuy nhiên, so với các biện pháp khác được tòa án quyết định áp dụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự thì BPKCTT có những nhiều điểm khác biệt:

          – Tính khẩn cấp: Tòa án phải ra quyết định áp dụng ngay đôi khi không cần có yêu cầu của đương sự và quyết định này được thực hiện ngay sau khi được toàn án quyết định áp dụng. Mục đích của việc áp dụng BPKCTT trong các trường hợp này nhằm đáp ứng nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ kịp thời quyền lợi của người có yêu cầu hoặc người yếu thế.

          – Tính tạm thời: quyết định áp dụng BPKCTT chưa phải là quyết định cuối cùng về giải quyết vụ việc dân sự. Đây chỉ là biện pháp tạm thời được áp dụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, chưa phải là quyết định về giải quyết vụ việc dân sự. Sau khi áp dụng BPKCTT nếu lí do của việc áp dụng không còn nữa thì tòa án có thể hủy bỏ quyết định này.

          – Áp dụng BPKCTT phải tuân theo các điều kiện, trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm bảo vệ quyền  và lợi ích hợp pháp của các đương sự.

1.3 Ý nghĩa của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự

          – Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời góp phần giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự: Các biện pháp khẩn cấp tạm thời như buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng, buộc thực hiện một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại,… được áp dụng có ý nghĩa quan trọng trong giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự. Nếu không áp dụng ngay thì có thể sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của đương sự.

          –  Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời góp phần bảo vệ chứng cứ cho việc giải quyết vụ án: Trên thực tế có nhiều trường hợp để trốn tránh nghĩa vụ, đương sự có tâm lý muốn hủy hoại chứng cứ, chuyển dịch quyền tài sản,… Việc áp dụng các BPKCTT góp phần ngăn ngừa các hành vi tiêu cực trên, đồng thời giúp Tòa án xem xét, đánh giá chứng cứ, giải quyết vụ án được chính xác và khách quan.

          – Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời góp phần bảo tình trạng tài sản tránh việc gây thiệt hại không thể khắc phục được, giữ được tài sản bảo đảm cho việc thi hành bản án, quyết định của tòa án sau này.

Như vậy, việc áp dụng BPKCTT mang nhiều ý nghĩa không những đối với việc giải quyết vụ viện dân sự của Tòa án mà cả đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Tuy nhiên, việc áp dụng BPKCTT có thể gây thiệt hại đến quyền và lợi ích của người bị áp dụng và người khác. Do vậy, tòa án phải xem xét thận trọng trước khi quyết định áp dụng biện pháp này và phải thực hiện đúng quy định của pháp luật để tránh gây thiệt hại cho đương sự và các chủ thể khác.

II, PHÂN TÍCH VÀ BÌNH LUẬN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI

2.1 Các loại biện pháp khẩn cấp tạm thời

          Trên thực tế, các tranh chấp dân sự xảy ra rất đa dạng, yêu cầu áp dụng BPKCTT đa dạng nên các biện pháp này cũng cần được áp dụng cụ thể. Theo quy định tại Điều 114 BLTTDS năm 2015 có 16 BPKCTT, đã bổ sung thêm một số biện pháp so với Bộ luật TTDS năm 2011 như: Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ, cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình, tạm dừng việc đóng thầu và các hoạt động có liên quan đến việc đấu thầu, bắt giữ tàu bay bay, tàu biển để bảo đảm giải quyết vụ án. Ngoài 16 biện pháp trên thì tòa án cũng có thể áp dụng các BPKCTT khác do pháp luật quy định. Mỗi BPKCTT chỉ được áp dụng trong trường hợp nhất định, với một ý nghĩa nhất định.

          Trong từng trường hợp cụ thể người có quyền yêu cầu tòa án áp dụng BPKCTT phải lựa chọn BPKCTT phù hợp để yêu cầu tòa án ra quyết định áp dụng. Do giới hạn số trang của bài tập nên em xin đi sâu phân tích một số BPKCTT cụ thể như sau:

          – Biện pháp giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục

          Theo quy đinh tại Điều 115 BLTTDS năm 2015 thì BPKCTT giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục được tòa án quyết định áp dụng trong việc giải quyết vụ án có liên quan đến những người này mà họ chưa có người giám hộ. Đối chiếu với Khoản 1 Điều 102 BLTTDS năm 2011, BLTTDS năm 2015 đã bổ sung thêm đối tượng được giao để “trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục” là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Quy định này là phù hợp với BLDS 2015 vì bộ luật mới đã bổ sung thêm quy định về năng lực hành vi dân sự của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Bên cạnh đó, Điều 115 BLTTDS năm 2015 đã bổ sung thêm quy định “Việc giao người chưa thành niên từ đủ bảy tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của người đó”. Quy định này nhằm bảo đảm cho việc chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên được tốt nhất, quan tâm đến tâm tư, nguyện vọng của họ.

          Trong thực tiễn tố tụng khi giải quyết các vụ án liên quan đến người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi như vụ án li hôn, tước quyền chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên của bố mẹ,.. khi thấy cần thiết Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan tổ chức có quyền yêu cầu tòa án quyết định áp dụng BPKCTT . Tuy nhiên, trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi trong vụ án hôn nhân và gia đình đã có người giám hộ nhưng người giám hộ đó lại đang chấp hành hình phạt tù, đang trong tình trạng bị hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên hoặc một bên cha, mẹ đang chấp hành hình phạt tù còn bên kia rơi vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn như ốm nặng, nghèo túng không thể trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên. Với những trường hợp này Tòa án cũng cần phải quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân, cơ quan, tổ chức đó trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.[2]

          Vì vậy, biện pháp khẩn cấp tạm thời này cần được áp dụng đối với việc giải quyết việc tuyên bó một người bị mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi nếu họ chưa có người giám hộ hoặc đã có người giám hộ nhưng người giám hộ không có khả năng thực hiện việc giám hộ.

          -Biện pháp kê biên tài sản đang tranh chấp

          Kê biên tài sản đang tranh chấp là biện pháp khẩn cấp tạm thời do Tòa án quyết định áp dụng nhằm kiểm kê, thống kê những tài sản đang có trong tranh chấp trong vụ kiện để nắm rõ những tài sản đó và buộc người đang giữ tài sản tranh chấp không được chuyển dịch, tẩu tán hay phá hủy tài sản.

          Tòa án quyết định áp dụng BPKCTT này khi giải quyết vụ án dân sự theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu. Tài sản đang tranh chấp có thể là động sản hoặc bất động sản. Trong trường hợp tài sản bị kê biên là động sản thì sau khi kê biên tài sản có thể bị thu giữ, bảo quản tại kho của cơ quan thi hành án hoặc giao cho người thứ ba quản lý cho đến khi có quyết định của Tòa án. Trường hợp tài sản bị kê biên là bất động sản thì sau khi kê biên tài sản có thể được giao cho đương sự hoặc người thứ ba quản lý cho đến khi có quyết định của Tòa án. Căn cứ vào Điều 120 BLTTDS 2015, biện pháp này được áp dụng khi có hai điều kiện sau:

          + Khoản 1 Điều 120 BLTTDS 2015 nêu nên đối tượng kê biên:  biện pháp khẩn cấp tạm thời kê biên tài sản chỉ áp dụng đối với tài sản đang có tranh chấp mà không phải là áp dụng đối với tất cả tài sản của đương sự trong vụ án dân sự. Có quan điểm cho rằng “ Những tài sản không phải là tài sản tranh chấp hoặc những tài sản chỉ liên quan đến tài sản tranh chấp sẽ không nằm trong những phạm vi những tài sản bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời kê biên”[3]. Tuy nhiên cá nhân em cho rằng những tài sản liên quan với tài sản tranh chấp có mối quan hệ mật thiết với nhau. Đôi khi đương sự vì muốn bảo vệ lợi ích cá nhân mà muốn chuyển đổi, tạo ra chứng cứ giả để tẩu tán tài sản, khiến nó không nằm trong phạm vi bị kê biên. Nếu chỉ áp dụng trong phạm vi tài sản tranh chấp thì có thể bỏ qua những tình tiết, tài sản gây thiệt hại đến đương sự, đồng thời biện pháp này cũng mất đi giá trị là tính khẩn cấp.

          + Điều kiện thứ hai là Tòa án chỉ được áp dụng BKKCTT này khi có “căn cứ cho thấy người đang giữ tài sản có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản tranh chấp”. Như vậy có thể hiểu rằng chỉ khi có những căn cứ xác thực là người đang nắm giữ tài sản tranh chấp đã có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản tranh chấp thì Tòa án mới được quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời kê biên. Nếu hiểu như cách này thì có thể biện pháp kê biên tài sản sẽ không đáp ứng được tính khẩn cấp và gần như không có tác dụng bảo toàn tài sản vì có thể đến khi áp dụng BPKCTT thì tài sản đã bị hủy hoại hoặc tẩu tán. Nhưng nếu hiểu theo cách là có căn cứ cho thấy người đang giữ tài sản có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản tranh chấp thì tính kịp thời sẽ được đảm bảo vì trên thực tế hành vi hủy hoại, tẩu tán tài sản chưa xảy ra. Chính vì vậy, điều luật này cần phải được bổ sung rõ ràng để người thực thi pháp luật thống nhất cách hiểu và áp dụng đúng đắn nhất.

2.2 Buộc thực hiện biện pháp bảo đảm

          Pháp luật đã quy định người yêu cầu tòa án áp dụng BPKCTT phải thực hiện biện pháp bảo đảm nhằm mục đích đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng và người thứ ba; tránh được việc lạm dụng yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

          Trên thực tế, mỗi vụ việc dân sự xảy ra đều có những đặc điểm riêng cho nên việc giải quyết nó, việc áp dụng BPKCTT trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự cũng có những yêu cầu riêng. Theo Điều 136 BLTTDS 2015, việc thực hiện biện pháp bảo đảm chỉ thực hiện đối với những trường hợp mà việc áp dụng BPKCTT có thể xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng hoặc người thứ ba.

2.3 Thẩm quyền, thủ tục áp dụng, thay đổi và hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời

          Thẩm quyền quyết định áp dụng, thay đổi và hủy bỏ BPKCTT được xác định theo thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự. Trước khi mở phiên tòa, việc giải quyết vụ án dân sự do một thẩm phán tiến hành nên việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPKCTT do một thẩm phán xem xét, quyết định. Tại phiên tòa, việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPKCTT do hội đồng xét xử xem xét, quyết định. Trường hợp hủy bỏ BPKCTT sau khi bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật thì do một thẩm phán được chánh án của tòa án đã đưa ra quyết định áp dụng BPKCTT phân công giải quyết quyết định.

          Thủ tục áp dụng BPKCTT được quy định tại Điều 133 BLTTDS 2015.

          Sau khi ra quyết định mà xét thấy BPKCTT đang được áp dụng không còn phù hợp hoặc không cần thiết, phải thay đổi hoặc phải áp dụng  bổ sung BPKCTT khác vì điều kiện áp dụng thay đổi thì tòa án có thể quyết định thay đổi, áp dụng bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời[4]. Ngoài ra, tòa án cũng có thể quyết định hủy bỏ BPKCTT.  Tuy vậy, để đảm bảo việc quyết định thay đổi, áp dụng bổ sung hay hủy bỏ BPKCTT được đúng, tòa án phải xem xét thận trong trước khi quyết định. Đối với việc hủy bỏ BPKCTT chỉ được thực hiện khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 138 BLTTDS 2015. Đồng thời, Tòa án phải xem xét quyết định để người yêu cầu áp dụng BPKCTT nhận lại chứng từ bảo lãnh được bảo đảm bằng tài sản của ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác hoặc tài sản bảo đảm đã nộp ở ngân hàng, trừ trường hợp người yêu cầu tòa án áp dụng BPKCTT không đúng gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị áp dụng BPKCTT hoặc cho người thứ ba.

2.4 Khiếu nại, kiến nghị áp dụng, thay đổi và hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời

          Khi áp dụng BPKCTT thì hiệu lực và việc thi hành được quy định tại Điều 123 và Điều 126 BLTTDS. Tuy nhiên, việc áp dụng, thay đổi và hủy bỏ BPKCTT có thể không chính xác hoặc không còn căn cứ nên đương sự có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị. Việc khiếu nại, kiến nghị khi cho rằng quyết định áp dụng, thay đổi, bổ sung, hủy bỏ BPKCTT của Tòa án là không đúng hoặc hành vi của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong việc giải quyết yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là không đúng. Vì quyết định áp dụng BPKCTT  có hiệu lực thi hành ngay, không thể bị kháng cáo, kháng nghị nên quy định về khiếu nại và kiến nghị về quyết định này là cần thiết, góp phần bảo đảm cho việc giải quyết yêu cầu áp dụng BPKCTT được đúng đắn và khách quan. Điều 140, Điều 141 quy định chi tiết thời hạn và thẩm quyền và việc giải quyết khiếu nại, kiến nghị này.

2.5 Trách nhiệm do áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng

          Áp dụng BPKCTT chỉ có ý nghĩa khi nó không xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Vì vậy, để nâng cao trách nhiệm của tòa án và người có quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT, pháp luật hiện hành còn quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do áp dụng BPKCTT không đúng.

          – Đối với trường hợp người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng[5]

Hiểu sâu về quy định này thì có thể thấy điểm bất cập. Bởi đương sự có quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT, song việc có áp dụng hay không là do Tòa án xem xét và quyết định. Tòa án có nhiệm vụ cân nhắc, căn cứ vào quy định của pháp luật và đơn yêu cầu để quyết định có áp dụng hay không biện pháp khẩn cấp tạm thời mà đương sự yêu cầu. Vì vậy, pháp luật chỉ xác định trách nhiệm của người yêu cầu trong trường hợp này là chưa thỏa đáng mà cần có quy định cả trách nhiệm của Tòa án trong trường hợp này.

– Đối với trường hợp Tòa án tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Theo khoản 2 Điều 113 BLTTDS 2015 tòa án áp dụng BPKCTT không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng hoặc cho người thứ ba thì tòa án phải bồi thường cho người bị hại. Tuy nhiên, tòa án chỉ phải bồi thường trong các trường hợp nhất định quy định tại điều này. Việc xác định trách nhiệm bồi thường của tòa án, mức bồi thường cụ thể trong từng trường hợp do tòa án áp dụng BPKCTT không đúng được thực hiện theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Kết luận 1: Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định tương đối cụ thể, chi tiết các biện pháp khẩn cấp tạm thời, tạo cơ sở pháp lý cho việc áp dụng BPKCTT, dự liệu được các tình huống phát sinh trong thực tiễn đời sống, nên đã tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án, các đương sự trong quá trình yêu cầu và áp dụng BPKCTT vào thực tiễn giải quyết vụ án dân sự. Thông qua việc phân tích và đánh giá, cũng nhận thấy một số quy định của pháp luật hiện hành còn bộc lộ những điểm hạn chế, bất cập cần được nghiên cứu và hoàn thiện thêm.

II. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TRONG ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI

3.1 Thực trạng thực hiện pháp luật về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

          Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung, trong đó quy định mới một số biện pháp, đồng thời sửa đổi, bổ sung một số quy định khác về các biện pháp khẩn cấp tạm thời. Thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động ,…thời gian qua cho thấy, việc áp dụng các quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời tại các Tòa án nhân dân về cơ bản đã đảm bảo đúng pháp luật. Tuy nhiên, vẫn còn một số Tòa án nhân dân để xảy ra sai sót, vi phạm. Phụ lục của chỉ thị số 03/2019/CT-CA ngày 30 tháng 12 năm 2019 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao (đính kèm phần phụ lục) đã chỉ ra một số sai sót cần rút kinh nghiệm trong vệc áp dụng các BPKCTT. Do đó, em xin đưa ra một vài vụ việc thực tiễn cho những sai phạm đó

Thứ nhất, về đương sự có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

          Theo quy định tại khoản 1 Điều 111 BLTTDS năm 2015 thì quy định về quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời  của đương sự . Như vậy, đương sự (gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà không phân biệt bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập hay không) đều có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án. Tuy nhiên, thực tiễn hiện nay vẫn còn có ý kiến khác nhau về quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Cụ thể có ý kiến cho rằng chỉ khi nào bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập thì mới có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Một vụ án đã  minh chứng cho vấn đề này[6].

Thứ hai, về việc yêu cầu đương sự sửa đơn yêu cầu và nộp chứng cứ cho Tòa án

          Theo quy định tại khoản 1 Điều 133 BLTTDS năm 2015, người yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải làm đơn gửi đến Tòa án có thẩm quyền. Đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của đương sự phải có các nội dung chính quy định từ điểm a đến điểm e khoản 1 Điều 133 BLTTDS năm 2015.

Như vậy, nếu đương sự làm đơn yêu cầu chưa đúng theo quy định thì Tòa án chưa xem xét đơn yêu cầu của đương sự mà phải yêu cầu đương sự sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu. Tuy nhiên, hiện nay BLTTDS năm 2015 cũng như chưa có văn bản nào hướng dẫn thời hạn đương sự sửa đổi, bổ sung đơn trong thời hạn bao lâu. Nếu hết thời hạn đó mà đương sự không sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu theo yêu cầu của Tòa án thì hậu quả pháp lý như thế nào. Cụ thể là Tòa án có quyền trả lại đơn yêu cầu cho đương sự hay không. Tương tự, nếu đương sự cung cấp chứng cứ chưa đủ thì Tòa án đề nghị đương sự cung cấp bổ sung chứng cứ trong thời hạn bao lâu. Nếu hết thời hạn được yêu cầu mà đương sự không cung cấp bổ sung được chứng cứ thì hậu quả pháp lý như thế nào. Cụ thể là Tòa án trả lại đơn yêu cầu cho đương sự hay xem xét đơn yêu cầu và ra quyết định không chấp nhận yêu cầu của đương sự.

Thứ ba, về xác định giá trị tài sản bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

          Hiện nay về nguyên tắc Tòa án chỉ phong tỏa tài sản, tài khoản tương ứng với nghĩa vụ tài sản mà người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải thực hiện. Nên việc Tòa án phải xác định giá trị tài sản bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Tuy nhiên, vấn đề xác định giá trị tài sản bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cần phải được hướng dẫn cụ thể hơn, nhất là về thẩm quyền, trình tự, thủ tục và thời gian Tòa án phải xác định giá trị tài sản bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Cụ thể là tự Thẩm phán, Hội đồng xét xử có quyền xác định giá trị tài sản bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không. Hay là phải do Hội đồng định giá tài sản xác định. Trình tự, thủ tục tiến hành việc xác định giá tài sản như thế nào. Thời hạn để xác định già trị tài sản bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là bao lâu. Một vấn đề khác nữa là nếu tại phiên tòa đương sự có đơn yêu cầu phong tỏa tài sản và Tòa án cần phải xác định giá trị tài sản bị áp dụng biện pháp tạm thời và cần có thời gian mới xác định được già trị tài sản thì Hội đồng xét xử quyết định tạm dừng phiên tòa hay phải hoãn phiên tòa.

Thứ tư, một số biện pháp khẩn cấp tạm thời còn được hiểu chưa rõ ràng

          Có rất nhiều BPKCTT được áp dụng chưa đúng, còn hiểu sai về quy định pháp luật, cụ thể như một vài vụ án thực tiễn sau:

          Vụ án đầu tiên[7] liên quan đến biện pháp giao người chưa thành niên, người bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục”

Cần phải hiểu thuật ngữ “người giám hộ” theo nghĩa rộng gồm “người đại diện theo pháp luật, người giám hộ” và phải là việc đại diện, giám hộ hợp pháp. Trong trường hợp trên, theo bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, bà L là người đại diện theo pháp luật và có quyền nuôi dưỡng cháu K. Việc ông H giữ cháu K mà không có sự đồng ý của bà L ảnh hưởng đến quyền nuôi dưỡng con chung của bà L. Vì vậy, bà L hoàn toàn có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT tại Điều 115 BLTTDS năm 2015.

          Vụ án thứ hai[8] liên quan đến biện pháp “cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định”

Điều 127 BLTTDS năm 2015 quy định, cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy, đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thực hiện hoặc không thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có liên quan trong vụ án đang được Tòa án giải quyết.

Tuy nhiên, quy định của Điều 127 vô tình tạo khoảng trống để đương sự lạm dụng, né tránh khi yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT trong thực tiễn. Theo đó, đương sự có thể yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT tại Điều 127 để buộc người đang chiếm hữu, người giữ tài sản hoặc chủ sở hữu tài sản (mà không phải tài sản tranh chấp) không được tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc có hành vi chuyển dịch quyền về tài sản cho người khác hoặc yêu cầu áp dụng BPKCTT đối với phần tài sản có giá trị lớn hơn nghĩa vụ của người bị áp dụng BPKCTT. Trong khi đó, các yêu cầu này thực chất thuộc phạm vi áp dụng BPKCTT tại các Điều 120, 121, 125, 126 BLTTDS năm 2015.

3.2 Hoàn thiện pháp luật TTDS về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

          – Hoàn thiện pháp luật về xác định trách nhiệm của Thẩm phán trong trường hợp áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng.

          – Hoàn thiện quy định về thời điểm ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong trường hợp đương sự nộp đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT cùng với việc nộp đơn khởi kiện.

          – Thống nhất cách hiểu chung về quy định: đương sự có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

          – Bổ sung văn bản quy định thời hạn, thủ tục và hậu quả pháp lý việc yêu cầu đương sự sửa đơn yêu cầu và nộp chứng cứ cho Tòa án.

          – Quy định chi tiết về việc xác định giá trị tài sản bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

          Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là một trong những thủ tục cần thiết khi giải quyết vụ án dân sự, góp phần bảo đảm cho hoạt động xét xử và thi hành án dân sự. Các quy định về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong BLTTDS  ngày càng được hoàn thiện bằng việc bổ sung nhiều biện pháp mới cho phù hợp với thực tiễn và pháp luật nội dung. Thông qua sự tìm hiểu và phân tích cũng như từ thực tiễn áp dụng BPKCTT , những vấn đề bất cập, mâu thuẫn trong pháp luật cần được kịp thời phát hiện và kiến nghị sửa đổi, góp phần nâng cao hiệu suất áp dụng BPKCTT, bảo vệ tốt hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Trường đại học luật Hà Nội NXB Công an nhân dân, 2018;
  2. Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017;
  3. Luật Trách nhiệm bồi thường Nhà nước năm 2016;
  4. Chỉ thị số 03/2019/CT-CA ngày 30 tháng 12 năm 2019 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về việc nâng cao chất lượng áp dụng các quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự;
  5. Bùi Thị Huyền, Bàn về một số biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của BLTTDS năm 2015, Tạp chí Khoa học kiểm sát, số 02/2017;
  6. Nguyễn Trọng Bình, Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự và thực tiễn tại các tòa án nhân dân Sơn La, Luận văn thạc sĩ Luật học; TS. Hoàng Ngọ Thính hướng dẫn;

Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, chủ biên TS. Bùi Thị Huyền, Nxb Lao động năm 2016;


[1] Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, nxb Công an nhân dân tr.179

[2] Bùi Thị Huyền, Bàn về một số biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của BLTTDS năm 2015, Tạp chí Khoa học kiểm sát, số 02/2017

[3] Trần Phương Thảo (2011) BIện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự, Luận văn án tiến sĩ Luật học, Hà Nội. tr.80

[4] Điều 137. Thay đổi, áp dụng bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời

Khi xét thấy biện pháp khẩn cấp tạm thời đang được áp dụng không còn phù hợp mà cần thiết phải thay đổi hoặc áp dụng bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời khác thì thủ tục thay đổi, áp dụng bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời khác được thực hiện theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này

[5] Điều 113. Trách nhiệm do áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng

1. Người yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình; trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc cho người thứ ba thì phải bồi thường.

[6] Nguyên đơn là ông A là bên được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất tranh chấp, bị đơn là chị H là bên đang trực tiếp sử dụng thửa đất. Quá trình giải quyết vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất, ông A dùng xe cơ giới đấp đất trên thửa đất tranh chấp để chặn ngang đường cấp thoát nước vào ao nuôi cá của bị đơn. Bị đơn nộp đơn yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời buộc nguyên đơn phải khai thông đường cấp thoát nước vào ao nuôi cá của bị đơn. Vì việc ông A chặn đường cấp thoát nước vào ao cá của chị H làm thiệt hại tôm mà chị H đang nuôi chưa thu hoạch. Đối với vụ án này, có quan điểm cho rằng chị H không có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vì trong chị H không có yêu cầu phản tố gì trong vụ án. Nhưng có quan điểm cho rằng chị H có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vì BLTTDS năm 2015 không có quy định bị đơn không có yêu cầu phản tố sẽ không có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

[7] Theo đơn khởi kiện, ông Huỳnh Ngọc H cho rằng, theo bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 629/2018/HNGĐ-ST của Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh T, bà Trần Hồng L được ly hôn với ông H; bà L được quyền nuôi dưỡng con chung tên Huỳnh Ngọc K, sinh ngày 11/10/2016. Chi cục Thi hành án dân sự huyện A đã giao cháu K cho ông Trần Hồng T (cha ruột của bà L) nhận nuôi dưỡng do được bà L ủy quyền. Tuy nhiên, do ông T nuôi dưỡng cháu K không đúng với bản án đã tuyên, là người lớn tuổi, vụng về trong việc chăm sóc trẻ nhỏ nên ông H đã mang cháu K về nuôi dưỡng sau khi ông T nhận cháu K khoảng 15 phút. Vì vậy, ông H yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, giao cháu K cho ông H nuôi dưỡng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, do yêu cầu giao trả cháu K nhưng ông H không chấp nhận nên bà L có đơn yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT theo Điều 115 BLTTDS năm 2015. Tuy nhiên, Tòa án nhân dân huyện A đã không chấp nhận yêu cầu của bà L do cháu K đang có người đại diện hợp pháp, người giám hộ theo quy định của pháp luật là bà L, ông H.

[8] Theo đơn khởi kiện ngày 13/5/2019, nguyên đơn ông Huỳnh Văn T trình bày, vào ngày 17/02/2019, ông T có cho bà Nguyễn Thị Đ vay số tiền 50.000.000 đồng, lãi suất 5%/tháng, thời hạn vay 01 năm. Hai bên có lập biên nhận thể hiện. Từ lúc vay tiền đến nay, bà Đ không đóng lãi cho ông T. Do bà Đ vi phạm nghĩa vụ trả lãi nên ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh B buộc bà Đ trả lại số tiền vay 50.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án, do biết bà Đ được cấp quyền sử dụng đất nông nghiệp diện tích 3.500m2 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS03878 ngày 15/9/2017 của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh B và bà Đ đang thực hiện thủ tục chuyển nhượng cho người khác nên để đảm bào cho việc thi hành án, ông T yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT tại Điều 127 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, cấm bà Đ chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 3.500m2. Ngày 21/8/2019, Tòa án nhân dân huyện T ban hành Quyết định áp dụng BPKCTT theo yêu cầu của bà Đ.


TỔNG ĐÀI LUẬT SƯ 1900 0191 - GIẢI ĐÁP PHÁP LUẬT TRỰC TUYẾN MIỄN PHÍ MỌI LÚC MỌI NƠI
Tài liệu trên là tài sản của Công ty Luật LVN, chỉ được sử dụng để tham khảo, việc tự áp dụng trong mọi trường hợp sẽ dẫn đến hậu quả không mong muốn.
Để có được lời khuyên pháp lý an toàn nhất, vui lòng liên hệ Luật sư (Miễn phí 24/7) số: 1900.0191 để gặp Luật sư, Chuyên viên tư vấn pháp luật.

Bộ phận tư vấn pháp luật

Bình luận về lợi nhuận và việc phân phối lợi nhuận trong hoạt động tài chính doanh nghiệp

Bình luận về lợi nhuận và việc phân phối lợi nhuận trong hoạt động tài chính doanh nghiệp.

Với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế ngày nay, không thể phủ nhận được tầm quan trọng của lợi nhuận đối với 1 doanh nghiệp daquy nhỏ hay lớn. Lợi nhuận vừa là mục tiêu, vừa là động lực và là điều kiện tồn tại của doanh nghiệp.

A. Lý luận chung về lợi nhuận và việc phân phối lợi nhuận trong hoạt động tài chính doanh nghiệp: 

I. Lợi nhuận: 

1. Khái niệm: 

Lợi nhuận được hiểu đơn giản là phần thu nhập còn lại của doanh nghiệp sau khi bù đắp các khoản chi phí phát sinh trong kỳ của doanh nghiệp. Đây Là Phần chênh lệch giữa tổng thu nhập và chi phí

Công thức xác định lợi nhuận: Lợi nhuận = Tổng thu nhập – Tổng Chi phí Trong đó, tổng thu nhập là đối với các doanh nghiệp chủ yếu là doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ. Doanh thu bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ là biểu hiện bằng tiền giá trị sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đã cung cấp cho thị trường trong một thời kỳ nhất định sau khi trừ đi các khoản giảm trừ khác như: giảm giá, chiết khấu thương mại,…thời điểm xác định doanh thu là khi người mua chấp nhận thanh toán. Chi phí là số tiền mà một doanh nghiệp bỏ ra để có được nguồn thu nhập kể trên.

Như vậy, có thể hiểu để tạo ra được lợi nhuận thì tổng doanh thu của doanh nghiệp thực hiện được trong 1 thời kỳ nhất định phải đủ bù đắp được các chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra và phát sinh lãi.

2. Phân loại: 

Hiện nay, các doanh nghiệp ngày càng được phát triển và đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh, do đó lợi nhuận thu về đến từ nhiều nguồn gốc khác nhau, bao gồm: 

2.1. Căn cứ vào hoạt động của doanh nghiệp: 
2.1.1. Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh:

Lợi nhuận đến từ hoạt động này là khoản chênh lệch giữa doanh thu của hoạt động sản xuất kinh doanh và chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh. Hoạt Động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là hoạt động đầu tư vốn nhằm tìm kiếm lợi nhuận theo những mục tiêu đã được xác định sẵn từ đầu. Lợi Nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh có thể kể đến như: Lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh hàng hóa dịch vụ; lợi nhuận thu được từ hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp,…

2.1.2. Lợi nhuận từ hoạt động tài chính: 

Lợi nhuận thu được từ hoạt động này bao gồm: 

– Lợi nhuận từ góp vốn tham gia liên doanh: 

– Lợi nhuận cho vay vốn 

– Lợi nhuận do bán ngoại tệ 

– Lợi nhuận về cho thuê tài sản 

– Lợi nhuận từ các hoạt động đầu tư mua bán chứng khoán ngắn hạn và dài hạn 

– Lợi nhuận từ các hoạt động đầu tư khác 

2.1.3. Lợi nhuận là hoạt động khác:

Lợi nhuận từ hoạt động khác là khoản chênh lệch giữa doanh thu và chi phí của các hoạt động khác và thuế phải nộp theo quy định (trừ thuế thu nhập doanh nghiệp). Đây là các lợi nhuận thu được từ các hoạt động riêng biệt khác với những hoạt động nêu trên. Những khoản lãi này hiếm khi xảy ra, doanh nghiệp không có dự kiến trước hoặc có kế hoạch nhưng ít có khả năng thực hiện được. 

Lợi nhuận khác thường là các khoản được nhận được từ: – Thu hồi nợ khó đòi đã xử lý, xóa sổ 

– Thu hồi nợ không xác định được chủ 

– Thu tiền phạt vi phạm hợp đồng 

– Doanh thu từ hoạt động kinh doanh của những năm trước bị bỏ sót hoặc quên ghi vào sổ kế toán năm nay mới phát hiện ra. 

2.2. Căn cứ vào quyền chiếm hữu:
2.2.1. Lợi nhuận trước thuế: 

Lợi nhuận trước thuế là số lợi nhuận mà doanh nghiệp thu về sau khi đã trừ đi phần tiền bỏ ra để kinh doanh. Nhưng chưa kể đến thuế phải nộp nhà nước và tiền lãi. 

Công thức tính lợi nhuận trước thuế: EBT= Tổng doanh thu–(Tổng Chi Phí cố định + Tổng chi phí phát sinh). 

Trong đó: 

– Tổng doanh thu: Toàn bộ doanh thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. 

– Chi phí cố định: Giá vốn bỏ ra, chi phí vận chuyển, chi phí sản xuất,chi phí thuê nhân viên, chi phí thuê địa điểm…

– Chi phí phát sinh: Các chi phí phát sinh theo quá trình hoạt động không theo kế hoạch trước đó. 

Công thức này được áp dụng cho hầu hết các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.

2.2.2. Lợi nhuận sau thuế: 

Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối là lợi nhuận sau thuế khi chưa được sử dụng để tái đầu tư hay các hoạt động khác. Tức là khoản lợi nhuận vẫn được giữ nguyên, chưa được sử dụng vào bất cứ hoạt động thương mại nào của doanh nghiệp. 

Cuối 1 kỳ kế toán sẽ có các tài liệu thống kê như báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, quyết toán thuế, báo cáo tài chính…Trên cơ sở này, các doanh nghiệp có thể phân chia và sử dụng số tiền lợi nhuận một cách hợp lý.

Lợi nhuận sau thuế không chỉ dùng để tái đầu tư mà các doanh nghiệp thường trích lập các quỹ dự phòng hoặc trích khen thưởng, chia cổ tức, trích lập quỹ phúc lợi… Và nếu công ty nào không chia cổ tức, không trích để tiến hành hoạt động gì mà vẫn giữ nguyên số tiền lợi nhuận. Thì đây được là lợi nhuận sau thuế chưa phân phối. Và số tiền này sẽ được cộng dồn kỳ tiếp theo. 

Đa số doanh nghiệp sẽ tính LNST bằng công thức sau: LNST= Tổng doanh thu – ( 30% số tiền đầu tư cho sản xuất kinh doanh 10% thuế giá trị gia tăng + 20% thuế thu nhập doanh nghiệp) 

2.3. Căn cứ vào yêu cầu quản trị: 

Căn cứ vào yêu cầu quản trị thì lợi nhuận có thể chia là Lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) và Lợi nhuận trước thuế (EBIT) Mối liên hệ của 2 loại lợi nhuận này thể hiện qua công thức: EBIT = EBT + I 

Trong đó: I là chi phí lãi vay trong kỳ. 

3. Các chỉ tiêu đánh giá tình hình lợi nhuận của doanh nghiệp:

Có 5 chỉ tiêu cơ bản để 1 doanh nghiệp có thể dựa vào để đánh giá tình hình lợi nhuận của chính công ty mình, đó là:

– Tổng mức lợi nhuận 

– Tỷ suất lợi nhuận trên tổng vốn kinh doanh – Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu 

– Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí 

– Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu 

II. Phân phối lợi nhuận trong hoạt động tài chính doanh nghiệp:

1. Nguyên tắc trong phân phối lợi nhuận: 

Phân phối lợi nhuận nhằm mục đích chủ yếu tái đầu tư mở rộng năng lực hoạt động sản xuất kinh doanh và phát triển vốn của doanh nghiệp, khuyến khích người lao động nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. 

Về nguyên tắc, lợi nhuận được chia làm 2 phần: Phần đem chia là phần không chia. 

Sau khi thực hiện các hoạt động kinh doanh, công ty sẽ tạo ra lợi nhuận, ở giai đoạn này, nhà quản trị cần đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng việc phân phối các khoản lợi nhuận này. Để đảm bảo việc phân chia lợi nhuận một cách công bằng và hợp lý, các công ty cần tuân thủ các nguyên tắc sau:- Điều chỉnh hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa các chủ thể, bao gồm Nhà nước,công ty và cá nhân, trước hết cần thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước ( nộp thuế thu nhập) đầy đủ, kịp thời, nhằm tránh trốn thuế, trốn thuế. – Doanh nghiệp nên dành một phần lợi nhuận thỏa đáng để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, đồng thời chú trọng bảo vệ lợi ích của các thành viên trong doanh nghiệp; cân bằng giữa lợi ích ngắn hạn và lợi ích dài hạn. 

2. Nội dung phân phối lợi nhuận: 

Doanh nghiệp thực hiện phân phối lợi nhuận theo quy định tại Điều 31 Nghị định 91/2015/NĐ-CP; Điều 2 Nghị định 32/2018/NĐ-CP; Khoản 4 Điều 4 Thông tư 36/2021/TT-BTC và quy định sau:

(1) Lợi nhuận của doanh nghiệp được xác định theo quy định của pháp luật về kế toán sau khi bù đắp lỗ năm trước theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp, trích Quỹ phát triển khoa học và công nghệ, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật, phần lợi nhuận còn lại được 

phân phối theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 Điều 31 Nghị định 91/2015/NĐ-CP Điều 2 Nghị định 32/2018/NĐ-CP. 

(2) Căn cứ để trích lập quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ thưởng người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên xác định như sau: 

– Về xếp loại doanh nghiệp A, B, C làm căn cứ trích lập các quỹ thực hiện theo quy định của Chính phủ về giám sát đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp; giám sát tài chính đánh giá hiệu quả hoạt động và công khai thông tin tài chính của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100%vốn điều lệ và doanh nghiệp có vốn nhà nước và Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính. 

– Về tiền lương tháng thực hiện làm căn cứ trích lập các quỹ: 

Đối với trích quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi: căn cứ quỹ tiền lương thực hiện trong năm tài chính của người lao động của doanh nghiệp đã được phê duyệt và được xác định theo quy định tại Nghị định 51/2016/NĐ-CP quy định quản lý lao động, tiền lương và tiền thưởng đối với người lao động làm việc trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế (nếu có) chia(:)cho 12 tháng. 

Trường hợp, doanh nghiệp thực hiện cơ chế tiền lương, tiền thưởng theo quy định đặc thù thì thực hiện theo quy định riêng của Chính phủ về đặc thù đó. 

Đối với trích quỹ thưởng người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên: căn cứ quỹ tiền lương, thù lao thực hiện trong năm tài chính của người quản lý doanh nghiệp (chuyên trách và không chuyên trách) đã được chủ sở hữu phê duyệt và được xác định theo quy định của Nghị định 52/2016/NĐ-CP quy định tiền lương, thù lao, tiền thưởng đối với Người quản lý congtytrachnhiem hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100%vốn điều lệ và các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế (nếu có), chia (:) cho 12 tháng. 

Trường hợp, doanh nghiệp thực hiện cơ chế tiền lương, tiền thưởng theo quy định đặc thù thì thực hiện theo quy định riêng của Chính phủ về đặc thù đó. 

3. Phân phối lợi nhuận ở từng hình thức doanh nghiệp:

3.1. Doanh nghiệp nhà nước: 

– Lợi nhuận thực hiện sau khi bù đắp lỗ năm trước và nộp thuế TNDN được phân phối như sau: 

+ Chia lãi cho các thành viên góp vốn liên doanh liên kết theo(nếu có)

+ Bù đắp khoản lỗ của các năm trước đã hết thời hạn được trừ vào lợi nhuận trước thuế; 

+ Trích 10% vào quỹ dự phòng tài chính; khi số dư bằng 25%vốn điều lệ thì không chích nữa; 

+ Trích lập các quỹ đặc biệt từ lợi nhuận sau thuế theo tỷ lệ đã được nhà nước quy định đối với công ty đặc thù mà pháp luật quy định phải trích lập;

+ Số còn lại sau khi lập các quỹ quy định tại các điểm nếu trên khoản này được phân phối theo tỷ lệ giữa vốn nhà nước đầu tư tại công ty và vốn công ty tự huy động bình quân trong năm. 

Vốn do công ty tự huy động do phát hành trái phiếu, tín phiếu, vay của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, công ty tự chịu trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi cho người cho vay theo cam kết, trừ các khoản vay có bảo lãnh của Chính phủ, Bộ Tài chính, các khoản vay được hỗ trợ lãi suất. 

– Phần lợi nhuận được chia theo vốn nhà nước đầu tư được dùng để tái đầu tư bổ sung vốn nhà nước tại công ty nhà nước. Trường hợp không cần thiết bổ sung vốn nhà nước tại công ty nhà nước, đại diện chủ sở hữu quyết định điều động về quỹ tập trung để đầu tư vào các công ty khác. Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập quỹ này. 

– Lợi nhuận được chia theo vốn tự huy động được phân phối như sau: + Trích tối thiểu 30% vào quỹ đầu tư phát triển của công ty; 

+ Trích tối đa 5% lập quỹ thưởng Ban quản lý điều hành công ty. Mức Trích một năm không vượt quá 500 triệu đồng (đối với công ty có Hội đồng quản trị), 200 triệu đồng (đối với công ty không có Hội đồng quản trị)với điều kiện tỷ suất lợi nhuận thực hiện trước thuế trên vốn nhà nước tại công ty phải bằng hoặc lớn hơn tỷ suất lợi nhuận kế hoạch

+ Số lợi nhuận còn lại được phân phối vào quỹ khen thưởng, phúc lợi của công ty. Mức trích vào mỗi quỹ do Hội đồng quản trị hoặc Giám Đốc Công ty quyết định sau khi tham khảo ý kiến của Ban Chấp hành Công đoàn công ty. 

3.2. Công ty TNHH một thành viên nhà nước sở hữu 100%vốn điều lệ:

Lợi nhuận thực hiện sau khi bù đắp lỗ năm trước và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp được phân phối như sau: 

+ Quỹ khen thưởng, phúc lợi trích tối đa mỗi quỹ bằng 10%lợi nhuận sau thuế sau khi trích lập quỹ dự phòng tài chính và quỹ đặc biệt nếu có; 

+ Quỹ thưởng ban quản lý điều hành trích tối đa 5%, mức cụ thể do chủ sở hữu quyết định; 

+ Quỹ đầu tư phát triển tối thiểu 65% lợi nhuận sau thuế sau khi trích lập quỹ dự phòng tài chính và quỹ đặc biệt nếu có. 

3.3. Công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh:

Sau khi thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước và bù đắp các khoản chi phí đã chi ra trong kỳ, phan lợi nhuận sau thuế sẽ tiến hành phân phối theo điều lệ của công ty và đại hội cổ đông hàng năm, gồm:

+ Trích lập quỹ dự trữ bắt buộc là 5%, số dư quỹ này bằng 10%vốn điều lệ của công ty thì công ty không trích nữa. 

+ Trích lập các quỹ tích luỹ tái đầu tư. 

+ Chia cổ tức cho cổ đông, các thành viên góp vốn.

3.4. Công ty tư nhân: 

Sau khi thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước, doanh nghiệp sẽ tiến hành trừ các chi phí bất hợp lệ đã chi ra trong kỳ, số còn lại toàn quyền quyết định của chủ doanh nghiệp. 

B. Bình luận về lợi nhuận và việc phân phối lợi nhuận trong hoạt động tài chính doanh nghiệp: 

Thứ nhất, một doanh nghiệp có mức lợi nhuận trong kỳ cao thì chưa chắc doanh nghiệp đó sẽ luôn có khả năng thanh toán tốt trong kỳ đó vì khả năng thanh toán của một doanh nghiệp phụ thuộc vào dòng tiền mặt của doanh nghiệp. Nếu lợi nhuận nhiều dưới dạng tài sản cố định hoặc các dạng tài sản không thể chuyển hóa thành tiền mặt thì khả năng thanh toán của doanh nghiệp đó sẽ không tốt. 

Thứ hai, một doanh nghiệp có lợi nhuận cao vẫn có thể bị phá sản. Khi Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là khi đó họ không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu. Một doanh nghiệp có mức lợi nhuận trong kỳ cao thì chưa chắc khả năng thanh toán trong kì đó sẽ tốt cho nên dù doanh nghiệp có lợi nhuận cao thì vẫn có thể bị phá sản do tình hình tài chính không tốt. 

Thứ ba, lợi nhuận là nguồn khuyến khích vật chất đối với người lao động.Khi lợi nhuận của doanh nghiệp được nâng cao, người lao động sẽ nhận được thu nhập thỏa đáng hơn. Rõ ràng điều này làm kích thích khả năng sáng tạo cũng như hứng thú làm việc cho người lao động, từ đó tăng năng suất, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Thứ tư, nếu như coi lợi nhuận là đòn bẩy kinh tế trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thì vấn đề không dừng lại ở quy mô lợi nhuận nhiều hay ít, tỷ suất lợi nhuận cao hay thấp mà vấn đề ở chỗ phân phối lợi nhuận như thế nào. Chính phân phối lợi nhuận mới tác động tới các mặt lợi ích của nhà nước, doanh nghiệp và người lao động. Nếu như lợi nhuận của doanh nghiệp làm ra, nhà nước huy động tất cả hay phần lớn thì không kích thích chính doanh nghiệp đó tạo ra lợi nhuận và người lao động cũng không có hứng thú, động lực trong sản xuất, hoàn thành công việc. Chỉ khi nào doanh nghiệp làm ra lợi nhuận, được quyền chi phối phần lớn lợi nhuận để tích lũy cho doanh nghiệp và giải quyết lợi ích cho người lao động thì đòn bẩy lợi nhuận mới phát huy tốt hơn vai trò của nó. 

Lợi nhuận là mục tiêu kinh tế cao nhất mà một doanh nghiệp hướng đến,bất kỳ doanh nghiệp nào cũng sẽ có chính sách phân phối lợi nhuận hợp lý cho việc vận hành công ty vẫn đạt hiệu quả cũng như chế độ đối với nhân viên vẫn đảm bảo, để từ đó năng suất và hiệu quả công việc được nâng cao. Qua việc tìm hiểu về lợi nhuận và phân phối lợi nhuận trong tài chính doanh nghiệp em đã hiểu rõ hơn tầm quan trọng của vấn đề này trong sự lớn mạnh của doanh nghiệp.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nghị định 91/2015/NĐ-CP. 

2. Nghị định 32/2018/NĐ-CP. 

3. Nghị định 52/2016/NĐ-CP 

4. Thông tư 36/2021/TT-BTC 


TỔNG ĐÀI LUẬT SƯ 1900 0191 - GIẢI ĐÁP PHÁP LUẬT TRỰC TUYẾN MIỄN PHÍ MỌI LÚC MỌI NƠI
Tài liệu trên là tài sản của Công ty Luật LVN, chỉ được sử dụng để tham khảo, việc tự áp dụng trong mọi trường hợp sẽ dẫn đến hậu quả không mong muốn.
Để có được lời khuyên pháp lý an toàn nhất, vui lòng liên hệ Luật sư (Miễn phí 24/7) số: 1900.0191 để gặp Luật sư, Chuyên viên tư vấn pháp luật.

Bộ phận tư vấn pháp luật

Nguyên tắc chiếm hữu thực sự trong Luật quốc tế và việc áp dụng nguyên tắc này vào việc xác lập chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam

Nguyên tắc chiếm hữu thực sự trong Luật quốc tế và việc áp dụng nguyên tắc này vào việc xác lập chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam.

Đối với mỗi quốc gia chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là điều rất thiêng liêng. Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ lâu đã thuộc chủ quyền và là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam. Điều này đã được khẳng định qua các chứng cứ lịch sử cũng như việc thực hiện chủ quyền một cách thực sự, liên tục trong suốt nhiều thế kỷ của nhà nước ta. Thế nhưng , hai quần đảo này lại là tâm điểm của các cuộc tranh chấp giữa Việt Nam với Trung Quốc và một số nước khác. Như chúng ta đã biết tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là tranh chấp dài nhất, phức tạp nhất, trên vùng biển rộng với nhiều đảo nhất và liên quan đến nhiều bên nhất trong lịch sử tranh chấp thế giới. Đây là đề tài thu hút được rất nhiều sự quan tâm của giới khoa học nhằm tìm ra giải pháp công bằng theo Luật quốc tế phù hợp mà các bên có thể chấp thuận. Bài nghiên cứu khoa học này được viết dựa trên những tư liệu liên quan mà tôi đã thu thập, phân tích cùng với những lập luận khách quan của mình. Ngoài Lời mở đầu, nội dung chính của bài nghiên cứu khoa học được chia làm 3 chương , tập trung vào 2 vấn đề cơ bản là: 

  • Chủ quyền của Việt Nam trên 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa được khẳng định qua những chứng cứ lịch sử và pháp lý. 
  • Nguyên tắc chiếm hữu thực sự trong Luật quốc tế và việc áp dụng nguyên tắc này vào việc xác lập chủ quyền đối với hai quần đảo của Việt Nam.

Trong bài này, tôi muốn nhấn mạnh đến các bằng chứng lịch sử quan trọng, phù hợp vs pháp lý quốc tế về sự chiếm hữu mang tính nhà nước, hòa bình và liên tục của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường sa-2 quần đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Bên cạnh đó, cũng thể hiện rõ nguyên tắc chiếm hữu thực sự – một trong những nguyên tắc nền tảng của pháp luật quốc tế ,có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc xác lập chủ quyền của các quốc gia sau khi ra đời từ định ước Berlin, đồng thời có ý nghĩa to lớn trong việc giải quyết các tranh chấp lãnh thổ giữa các quốc gia với nhau.

Áp dụng nguyên tắc này của pháp luật quốc tế vào trường hợp hai quần đảo Hoàng Sa ,Trường Sa của Việt Nam , các tư liệu, bằng chứng lịch sử và căn cứ pháp lý đều cho thấy rằng Nhà nước Việt Nam là Nhà nước đầu tiên trong lịch sử đã chiếm hữu quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa khi hai quần đảo này còn là đất vô chủ và đã tiến hành thực thi chủ quyền của mình tại hai quần đảo này một cách liên tục, hòa bình. Việc căn cứ vào các quy định trong các văn bản Pháp lý quốc tế cũng như những nguyên tắc cơ bản về chủ quyền lãnh thổ, đặc biệt là nguyên tắc chiếm hữu thực sự là hết sức cần thiết để xác định chủ quyền một cách hợp pháp, đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của các quốc gia liên quan, góp phần gìn giữ hòa bình, an ninh khu vực và thế giới.

CHƯƠNG I : Chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa 

1. Tổng quan về Biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa:

1.1 Vị thế của Biển Đông: 

Biển Đông là một biển nửa kín được bao bọc bởi nhiều quốc gia nhất sau Địa Trung Hải ( gồm 9 quốc gia và 1 vùng lãnh thổ: Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Thái Lan, Campuchia , Singapore và Đài Loan). Với diện tích khoảng 3,5 triệu km2, Biển Đông là biển lớn nhất trong sáu biển lớn của thế giới, trải rộng từ vĩ độ 30lên đến 260 Bắc và trải rộng từ kinh độ 100 đến 121 độ Đông, có chiều rộng gấp 8 lần Biển Đen và gấp 1.2 lần Địa Trung Hải. Đây là biển duy nhất nối liền hai đại dương là Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương , là khu vực có các đường biển nhộn nhịp. về phía Tây, Biển đông thông với Ấn Độ Dương qua eo biển Malacca. Nơi hẹp nhất của em biển này rộng khoảng 17 hải lý, sâu khoảng 30m. Về phía Đông có thể đi qua eo biển sâu Mondoro để đến biển Sulu. Năm trong số mười tuyến đường biển thông thương lớn nhất thế giới đều liên quan tới Biển Đông. Nhiều nước khu vực Đông Á có nền kinh tế phụ thuộc sống còn vào con đường biển này như Nhật Bản, Hàn Quốc , Đài Loan, Singapore,.. Trung bình mỗi ngày , khoảng từ 150 đến 200 tàu các loại qua lại trên Biển Đông. Tàu thuyền đi qua eo biển Malacca hàng năm lên đến 18.000 chiếc, Nhật Bản coi đường vận tải qua Eo biển Malacca là “ tuyến đường sinh mệnh trên biển “ với 90% lượng dầu thô và một khối lượng lớn nguyên vật liệu khác mà nước này nhập khẩu từ châu Phi và Trung Đông đều đi qua đây. Quan hệ hàng hóa và thị trường giữa các nước tăng đáng kể với hơn một triệu tấn hàng hóa trao đổi qua Biển Đông. 

Đây cũng là biển duy nhất trên thế giới có hai quốc gia quần đảo lớn nhất thế giới Indonesia và Philippines, là nơi liên kết khối thị trường phía nam Trung quốc với khối ASEAN , có vai trò chiến lược ngày càng quan trọng trong hợp tác kinh tế thế kỉ 21. Biển Đông tuy là biển rìa lục địa nưng lại mang những nét đặc trưng của đại dương. 

Từ góc nhìn của Công Ước 1982 thì Biển Đông là khu vực đặc thù, bao gồm tất cả những nội dung liên quan của Công Ước như: quốc gia ven biển, quốc gia quần đảo, phân định biển, eo biển quốc tế, hợp tác quản lý tài nguyên sinh vật,..

1.2 Khái quát về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa: 

Hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là hai quần đảo bao gồm nhiều đảo có diện tích rất nhỏ, nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới .Ở đây thường là nơi đổ bộ của các trận bão lớn, hơn thế nữa, trên các đảo này hầu như không có đất canh tác, thảm thực vật nghèo nàn vì khí hậu khắc nghiệt, chủ yếu có cấu tạo san hô, không phù hợp với cuộc sống bình thường của con người. Đất đai trên các đảo màu mỡ vì được bổ sung nguồn phân chim song cây cối lại không thể tồn tại do khan hiếm nguồn nước ngọt, bão biển mang theo muối…Tuy nhiên, hai quần đảo này lại có giá trị địa chiến lược, chính trị, an ninh quốc phòng vô cùng quan trọng.

Thứ nhất, theo điều 121 khoản 3 Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982, nếu một bãi san hô, đảo đá ngoài khơi xa lục địa này không thích hợp cho con người đến ở hoặc không có đời sống kinh tế riêng thì ít nhất cũng mang lại cho quốc gia 1.543 km2lãnh hải và nếu chứng minh được chúng có quy chế đảo chứ không phải đá thì chúng mang lại thêm 340.000 km2 vùng đặc quyền kinh tế và một thềm lục địa mở rộng, chính vì vậy bất kỳ một đảo nào hoặc đá nào cũng mang lại vùng biển xung quanh có giá trị gấp nhiều lần so với giá trị của bản thân đảo hay đá đó. Các đảo ở Hoàng Sa và Trường Sa có giá trị như một tàu sân bay không chìm, thích hợp là căn cứ đóng quân, tiếp dầu, sửa chữa, huấn luyện quân, thử nghiệm vũ khí và tác chiến. 

Ngoài vị thế, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm gần như giữa Biển Đông, khống chế tới 39 tuyến hàng hải quan trọng của thế giới, khu vực hai quần đảo còn chứa đựng một tiềm năng kinh tế dồi dào được thể hiện rõ qua các nguồn lợi thủy sản và dầu khí. 

Nhìn chung tài nguyên lớn nhất của hai quần đảo chính là tài nguyên vị thế – là quyền kiểm soát vùng biển xung quanh, nó cũng lớn dần cùng sự phát triển của Luật biển, thu hút sự quan tâm của các nước và làm nảy sinh tranh chấp vùng biển xung quanh. 

1.2.1 Quần đảo Hoàng Sa: 

Quần đảo Hoàng Sa nằm chủ yếu giữa hai bắc vĩ tuyến 16⁰ vs 170 và giữa hai đông kinh tuyến 1110 và 1130,nơi gần nhất cách đảo Lý Sơn khoảng 120 hải lý, cách cảng Đà Nẵng khoảng 170 hải lý và cách đảo Hải Nam ( Trung Quốc ) khoảng 156 hải lý.Quần đảo Hoàng Sa gồm hai nhóm đảo chính: nhóm Amphitrite ở phía đông và nhóm Crescent ở phía tây, cách nhau 70km.

Ngoài 2 nhóm đảo kể trên, quần đảo HS còn gồm hơn 30 đảo nhỏ, đá cồn, san hô, bãi cát , trải rộng trên một vùng biển rộng từ tây sang đông khoảng 100 hải lý, bắc xuống nam khoảng 85 hải lý và chiếm diện tích khoảng 15.000 km2. Các đảo này có bố cục rắc rối vô cùng nguy hiểm cho việc hàng hải , đã có nhiều di vật tàu đắm nơi đây.1 

Nơi đây không có mùa đông lạnh giá bù lại là mùa hè nóng nực. Thời tiết có thể chia ra hai mùa, mùa khô từ tháng 1 đến tháng 6 và mùa mưa từ tháng 7 cho tới tháng 12. Quần đảo này thường xuyên có bão đi qua trong khoảng tháng 6 đến tháng 8. 

Các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa được ước tính là có trữ lượng gần 10 triệu tấn phân chim tích tụ từ lâu bị phong hóa qua khảo sát của các nhà địa chất Pháp. Đây là nguồn phân bón có giá trị rất lớn. 

Hải sản ở Hoàng Sa cũng rất đa dạng , nhiều loài quý như tôm hùm, hải sâm, đồi mồi,… thêm vào đó là loại rau câu quý hiếm, rất có giá trị trên thị trường quốc tế. 

1.2.2 Quần đảo Trường Sa 

Quần đảo này không dễ nhận diện như quần đảo Hoàng Sa vì đây là vùng gồm những đảo, đảo nhỏ, bãi cát và cồn đá vô cùng phân tán. Tất cả có trên 100 hòn đảo, đá cồn, san hô và bãi san hô, trải dài trên vùng biển rộng từ tây sang đông khoảng 350 hải lý , bắc xuống nam khoảng 360 hải lý và tổng diện tích quần đảo vào khoảng 160.000 đến 180.00 km2 – gấp 10 lần quần đảo Hoàng Sa. Giới hạn phía Bắc là 12 độ vĩ tuyến, giới hạn phía đông 111 độ kinh tuyến. 

Các đảo, cồn ở đây rất nhỏ, phần nhiều không có cây cối , chỉ bao phủ bằng một lớp cát hay phân chim, một số khác có vài bụi cây hay cụm dừa.Những đảo chính nổi trên mặt nước gồm có 4 đảo nhỏ là North Beef ( đảo Bắc ), Northeast Cay ( Song Tử Đông ), Southeast Cay ( Song Tử Tây) và South Reef ( đá Nam) ; Trident Shoal ( bãi Đinh Ba) , Lys Shoal (bãi An Lão ),Thi Tu Island là nơi có cây cối và nước ngọt. Tizard Bank ( bãi ngầm ) và Itu Aba ( Ba Bình) là đảo quan trọng nhất của quần đảo Trường Sa.2

Nguồn lợi hải sản ở đây rất phong phú, tập trung nhiều loại cá với mật độ cao, có loại vích là động vật quý hiếm và cá ngừ có giá trị kinh tế cao. Quần đảo Trường Sa được tính có khoảng 370.000 tấn phân chim, trữ lượng khí đốt khoảng 25 tỷ mét khối và xăng dầu khoảng 105 tỷ thùng. 

Về khí hậu, thời tiết ở vùng biển quần đảo Trường Sa khác biệt lớn hơn so với vùng ven bờ. Mùa hè mát hơn và ấm hơn vào mùa đông. Hàng năm quần đảo này có tới 131 ngày có gió mạnh từ cấp 6 trở lên, phân phối không đồng đều trong các tháng. Giống quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa cũng có hai mùa: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 tới tháng 1 năm sau với lượng mưa trung bình rất lớn, hiện tượng giông bão cũng rất phổ biến , quanh năm tháng nào cũng có giông và có bão lớn đi qua vào các tháng mùa mưa. 

2. Những cứ liệu lịch sử khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam: 

2.1. Thời các Chúa Nguyễn ( 1600-1777) 

Những bản đồ nước ta ở thời điểm này chưa mô tả đầy đủ bờ biển , Biển Đông và các cửa biển trên toàn quốc vì chúng được thực hiện trong giai đoạn lãnh thổ đang thời kỳ Nam tiến. Mặc dù vậy đã có những chi tiết xác định chính quyền và nhân dân ta đã khai thác, làm chủ các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn có viết: “ Xã An Vĩnh thuộc huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi ở gần bãi biển. Về hướng Đông Bắc ngoài biển có nhiều đảo và nhiều núi linh tinh hơn 130 đỉnh… ở trong các hòn đảo có bến Cát Vàng…Ngày trước, họ Nguyễn có thiết lập đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người ở xã An Vĩnh…Họ Nguyễn còn thiết lập thêm đội Bắc Hải…”3 

2.2. Dưới triều Nguyễn ( 1802-1884): 

Hầu như năm nào các chúa Nguyễn , các vua triều Nguyễn cũng ra lệnh cho thủy quân đi công tác ở Hoàng Sa và tất cả các đảo ở Trường Sa để khai thác các mối lợi và thực thi chủ quyền vững chắc tên các hải đảo xa xôi trong Biển Đông. Thêm nữa, là BA BẢN ĐỒ CÙNG KHẲNG ĐỊNH Hoàng Sa – Trường Sa là CỦA VIỆT NAM 

– Đại Nam nhất thống toàn đồ. Quốc sử quán 1838 

– An Nam đại quốc họa đồ. Taberd 1838 

– Đông Nam dương các quốc diên cách đồ. Ngụy Nguyên 1842 1. Bản đồ Đại Nam nhất thống toàn đồ vẽ rõ tình hình địa lý với tất cả địa danh đương thời. Bờ biển VN khi ấy đã rõ nét như chữ S và gần giống vs các bản đồ theo kinh tuyến, vĩ tuyến. Trên Biển Đông có vẽ khối lớn gồm nhiều đảo nhỏ, phía Bắc có ghi 2 chữ Hán Hoàng Sa và phía Nam ghi 4 chữ Vạn lý Trường Sa.4 

2. Bản đồ An Nam đại quốc họa đồ được Giám mục Taberd công bố năm 1838 có nhiều chi tiết hơn bản đồ Đại Nam, ngoài ra các địa danh cũng đc ghi danh bằng chữ quốc ngữ. Ngoài Biển Đông có vẽ mấy hòn đảo nhỏ , được ghi là 

Paracel seu hay Bãi Cát Vàng. Điều này chứng tỏ HS hay Bãi Cát Vàng chỉ có thể là của VN. 

3. Bản đồ Đông Nam dương các quốc diên cách đồ của Ngụy Nguyên năm 1842 ghi nhiều đảo như dấu chấm với địa danh Vạn lý trường sa, đó là quần đảo Hoàng sa và dưới phía Nam, Ngụy nguyên cũng ghi nhiều dấu chấm với địa danh Thiên lý thạch đường , đó chính là quần đảo TS. Hai quần đảo vừa kể thuộc chủ quyền của VN. Trên Biển Đông , Ngụy Nguyên ghi rõ Đông dương đại hải tức Biển Đông rất lớn. 

Đa số bản đồ phương Tây với ba bản đồ trên đều không ghi nhầm Biển Đông là biển Trung Hoa ( Mer de Chine) hay Biển nam Trung Hoa ( Merméridionale de Chine ) . Các sách địa lý thế giới xưa của phương Tây cũng ghi nhận Hoàng Sa -Trường Sa là của VN. 

Năm 1833, trong sách “ Vũ trụ , lịch sử và mô tả hết mọi dân tộc, cùng tôn giáo, phong tục tập quán.” của Giám mục Taberd có đoạn mô tả rõ địa lý quần đảo HS: “Chúng tôi không thể đi sâu kể hết các hải đảo chính thuộc chủ quyền nước Giao Chỉ gần Trung Hoa ( Cochinchine, quốc hiệu chính thức khi ấy đã là Việt Nam). Chúng tôi chỉ xin lưu ý rằng từ 34 năm trước đây, quần đảo Paracels gọi là Cát Vàng hay Hoàng Sa. Một khu vực rắc rối như mê hồn trận gồm nhiều đảo nhỏ và các bãi cát làm cho các nhà hàng hải sợ hãi, đã do người Việt Nam chiếm giữ. Chúng tôi không biết họ thiết lập một cơ sở nào chưa, song chắc chắn rằng hoàng đế Gia Long đã quan tâm kết hợp thêm một cánh hoa nhỏ ấy vào vương miện của mình, vì ông xét là thích hợp nên đích thân ra đảo thực hiện chủ quyền năm 1816 và trân trọng trưng quốc kỳ Việt Nam”.

Tài liệu lịch sử thu thập được tại huyện đảo Lý Sơn cũng là thêm bằng chứng khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Đó là một sắc chỉ quý của triều đình nhà Nguyễn liên quan đến đội Hoàng Sa mà tộc họ Đặng ở thôn Đồng Hộ, xã An Hải, huyện đảo Lý Sơn đã gìn giữ hai thế kỷ qua. Ông Đặng Lên là hậu duệ của ông Đặng Văn Siểm – một đà công , tức người dẫn đường trong đội thuyền gồm 3 chiếc với 24 lính thủy ra canh giữ đảo Hoàng Sa vào ngày 15 tháng 4 năm Minh Mạng thứ 15 tức năm Ất Mùi – 1835 đã ghi trong sắc chỉ của vua Minh Mạng mà ông Đặng Lên đang lưu giữ. 

Tờ lệnh ghi rõ :” Các phái viên và lính thủy đi trước để cùng thám sát các vùng của xứ Hoàng Sa. Xem xét và tuyển chọn trong tỉnh ba thuyền tốt cùng với các vật dụng được tu bổ vững chắc… Cứ hạ tuần tháng ba thuận thời tiết mà đi.“ Tuy chỉ vỏn vẹn vài trang nhưng nó chứa đựng nhiều thông tin quý, nêu rõ danh tính, quê quán của từng binh thuyền vâng mệnh triều đình đi lính Hoàng Sa, không chỉ riêng ở huyện đảo Lý Sơn mà còn ở các vùng quê ven biển khác tại Quảng Ngãi.6 

2.3. Dưới thời Pháp thuộc ( 1884-1945) 

Pháp bắt đầu vẽ bản đồ Việt Nam theo kỹ thuật khoa học hơn cho đúng kinh tuyến và vĩ tuyến. Năm 1885, Sở Thủy văn của bộ Hải quân Pháp đã thực hiện bản đồ Archipel des Paracels ( quần đảo Hoàng Sa) theo tư liệu của người Đức. Bản vẽ gồm hai phần quần đảo : 

(1) Groupe du Croissant ( nhóm Nguyệt Thiềm) và các đảo, bãi thành viên; (2) Groupe de l’Amphitrite ( nhóm An Vĩnh) và các đảo , bãi thành viên.7 Bản đồ đã thực hiện hơn 100 năm qua vẫn được coi là chính xác, chỉ cần dịch tiếng Pháp sang Tiếng Việt và ghi tên các đảo bằng địa danh đã Việt hóa hoặc tên mới do ta đặt là đủ. 

Trong thời kỳ Pháp xâm lược Việt Nam, trên cơ sở đại diện cho triều đình phong kiến An Nam, Pháp đã có nhiều hành động củng cố chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa bằng việc tiến hành tuần tra, kiểm soát và đưa quân ra đóng trên các đảo. Để quản lý hành chính, chính quyền lúc đó đã sáp nhập quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa và thành lập đơn vị hành chính ở quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế và cho xây dựng nhiều công trình trên cả hai quần đảo. 

Sau chiến tranh thế giới lần II, Pháp quay lại Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 08/03/1949, Pháp công nhận độc lập thống nhất của Việt Nam và ngày 14/10/1950, Pháp chính thức trao trả việc phòng thủ quần đảo Hoàng Sa cho Việt Nam. 

2.4. CÁC NHÀ HÀNG HẢI, TU SĨ PHẬT GIÁO , CÔNG GIÁO, CÁC SÁCH ĐỊA DƯ THẾ GIỚI XƯA, các tài liệu phương Tây cũng ĐỀU KHẲNG ĐỊNH HOÀNG SA- Trường Sa LÀ CỦA Việt Nam. 

Người Bồ Đào Nha bắt đầu thám hiểm đường bờ biển Việt Nam năm 1523. Diogo Ribeiro đã thăm dò một khoảng dài rất nhiều đảo san hô,bãi đá ngầm cực kì nguy hiểm cho thuyền bè đi lại và vẽ lại quần đảo này vs ba sơ đồ của ba năm: 1525,1527,1529. ông đặt tên quần đảo này là Pracel ( nghĩa là đá ngầm ) , là quần đảo của Giao Chỉ- tức VN ta. ông cũng đặt tên bờ biển quần đảo đá ngầm ( Costa da Pracel) ở khoảng đất liền Quảng Ngãi8 

Rất nhiều bản đồ khác ở Tây phương đều vẽ theo Diogo Ribeiro, chỉ khác tên gọi Pracel thành Parcel hay Paracel. Người Đức và người Anh phát hiện hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cách nhau khá xa và cuối thế kỉ 19. 

Quần đảo phía Bắc ( Hoàng Sa) vẫn giữ nguyên tên là Paracel, quần đảo phía nam (Trường Sa) gọi là Spratly để ghi ơn thuyền trưởng Richard Spratly người Anh đã có nhiều công phát hiện các quần đảo trong Biển Đông. 

Cuốn La cosmografia istorica, astronomica e fisica, tập 6 của Biagio Soria in tại Napoli năm 1828, phần 4 nói về đế chế An Nam có câu cuối cùng ghi rằng: “ Thuộc về đế chế này là quần đảo Hoàng Sa (Paracels) bao gồm các đảo và đá ngầm ở phía đông bờ biển nước này” .9 

Nhật ký trên tàu Amphitrite ( năm 1701) cũng xác nhận Paracels là một quần đảo thuộc về nước An Nam. 

Năm 1898 Trung Quốc đã nêu lý do Paracels ( quần đảo Hoàng Sa) không thuộc chủ quyền của Trung Quốc, dứt khoát từ chối yêu cầu của công ty Bảo hiểm Anh đòi Trung Quốc bồi thường việc dân Hải Nam ‘hôi của” của tàu Bellona của Đức đắm vào năm 1894 ở ngoài khơi bãi đá Bắc và tàu Unofi Maru của Nhật Bản đắm năm 1896 cũng ở quần đảo Hoàng Sa.10 

Mãi cho tới năm 1909, chính quyền Quảng Đông mới tuyên bố Paracels là đất vô chủ (res-nullius) và đem tàu chiến đến thảm sát, thực hiện bước đầu chiếm hữu theo cách thức phương Tây như bắn 21 phát súng đại bác, cắm cột mốc chủ quyền. Việt Nam khi ấy bị Pháp đô hộ , mất quyền tự chủ ngoại giao. 

Thêm vào đó, Trung Quốc còn cho rằng quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam là đảo ven bờ trong khi các tư liệu khách quan phương Tây, kẻ cả bản đồ như An Nam Đại quốc họa đồ năm 1838 được Giám mục Taberd đưa vào cuốn từ điển Latino-Anamitici ghi rất rõ Paracel seu hay Cát Vàng ( tức quần đảo Hoàng Sa) ở vị trí tọa độ hiện nay. 

Các tư liệu của Việt Nam cũng như của phương Tây và ngay cả một số tư liệu của Trung Quốc cũng hết sức rõ ràng về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một thực tế khách quan, khác hẳn với những tư liệu mà Trung Quốc đã viện dẫn để cố suy diễn và chứng minh chủ quyền của họ một cách phi pháp. Về pháp lý quốc tế, Hiệp định Genève năm 1954 về Đông Dương đã phản bác luận điểm của Trung Quốc khi cho rằng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã từng thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa ở Biển Đông nằm dưới vĩ tuyến 17 sẽ được đặt dưới sự quản lý hành chính của chính quyền quản lý phía Nam vĩ tuyến 17. Hòa ước Hòa bình Francisco cũng đã khẳng định không giao cho Trung Quốc thay thế Nhật Bản quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hiến chương Liên Hợp Quốc đề cập cấm sử dụng vũ lực trong việc giải quyết tranh chấp quốc tế, nhưng Trung Quốc nhiều lần vi phạm. Sự kiện năm 1974, Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng trái phép toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Công Ước Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982 cũng quy định rõ lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, cho phép các nước, bị vi phạm có thể đơn phương đưa nước vi phạm ra Tòa Luật biển của Liên Hợp Quốc. Việt Nam có đầy đủ cơ sở lịch sử và pháp lý quốc tế để khẳng định chủ quyền của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các văn bản nhà nước, sách điển chế, chính sử, sách địa lí , các tư liệu phương Tây và ngay cả của Trung Quốc trước năm 1909 đều thể hiện rõ quá trình xác lập , thực thi liên tục, hòa bình chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo này. Tuy nhiên, chính quyền nước ta luôn tôn trọng nguyên tắc “ công lý hòa bình” để giải quyết các vụ xâm chiếm bất công những phần lãnh thổ, lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam. Ngoài công hàm gửi Liên Hiệp Quốc và các quốc gia vi phạm chủ quyền nước ta, hoặc các Sách Trắng cũng như tuyên bố minh bạch về chủ quyền, các cơ quan chức năng đã thiết lập những bản đồ có tọa độ chính xác về tất cả các đảo, bãi cát, đá ngầm.. của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nhằm minh thị chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc trên Biển Đông và trên toàn thể các quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa.

CHƯƠNG II: Nguyên tắc chiếm hữu thực sự trong LQT 

1. Luật pháp quốc tế về thụ đắc lãnh thổ : 

Trong quá trình phát triển lâu dài của nhân loại, cùng với sự xuất hiện của các quốc gia, Luật pháp quốc tế đã dần dần hình thành và phát triển. 

Trước đây khi chiến tranh được coi là phương tiện hợp pháp để giải quyết các tranh chấp quốc tế thì cơ sở xác lập chủ quyền lãnh thổ và thay đổi lãnh thổ quốc gia chủ yếu thông qua chiến tranh xâm chiếm lãnh thổ. Ngày nay, luật quốc tế hiện đại thừa nhận và khẳng định nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực đã làm thay đổi hẳn cơ sở của việc xác lập chủ quyền lãnh thổ. Pháp luật quốc tế cũng ghi nhận một trong những nguyên tắc cơ bản để xác lập hợp pháp danh nghĩa chủ quyền lãnh thổ của một quốc gia là: việc xác lập chủ quyền phải dựa vào các phương thức thụ đắc lãnh thổ hợp pháp. Luật pháp quốc tế về thụ đắc lãnh thổ là một ngành luật sớm xuất hiện và có vai trò quan trọng. Các quy định về thủ đắc lãnh thổ giúp giải quyết câu hỏi làm thế nào một quốc gia có thể xác lập chủ quyền đối với một vùng lãnh thổ mới một cách hợp pháp chống lại các yêu sách của các quốc gia khác. Qua lịch sử phát triển, có vẻ không có bất kỳ quốc gia nào không có biến động về lãnh thổ, và ngành luật quốc tế này sẽ hợp pháp hóa hoặc bất hợp pháp hóa các biến động này. Đối với Việt Nam, lịch sử đất nước đi cùng với lịch sử mở mang bờ cõi từ đồng bằng sông Hồng đến miền trung và rồi đến miền nam hình thành lãnh thổ đất nước hình chữ S như ngày nay. Trong quá trình lịch sử đôi lúc lãnh thổ Việt Nam mở rộng, đôi lúc lại thu hẹp. Hiện nay vẫn còn những vùng lãnh thổ của Việt Nam vẫn bị nước khác tranh chấp, đặc biệt là quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đối với khu vực đồng bằng sông Cửu Long, đôi khi có một số tiếng nói cho rằng đây là lãnh thổ của Campuchia. Để xác định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo trên và để phản bác mọi nghi ngờ về chủ quyền của Việt Nam ở đồng bằng sông Cửu Long và ở mọi vùng lãnh thổ khác trên đất nước, các quy định của luật quốc tế về thụ đắc lãnh thổ cần được tìm hiểu kỹ càng. 

Để xác định chủ quyền đối với vùng lãnh thổ tranh chấp, người ta thường phải trả lời câu hỏi: Lãnh thổ đó có phải là vô chủ không và ai là người đầu tiên xác lập chủ quyền trên lãnh thổ đó?. Một câu hỏi nữa cũng cần được trả lời đó là: phương thức thụ đắc lãnh thổ nào đã được sử dụng để thiết lập chủ quyền lãnh thổ? 

Vì vậy, nghiên cứu các phương thức thụ đắc lãnh thổ trong luật quốc tế là rất cần thiết. 

1.1 Các phương thức thụ đắc lãnh thổ 

Trong lịch sử phát triển lâu dài của Luật pháp quốc tế, những nguyên tắc và quy phạm pháp luật xác lập chủ quyền lãnh thổ đã được hình thành trên cơ sở thực tiễn quốc tế, trong đó có các phương thức thụ đắc lãnh thổ. 

Thụ đắc lãnh thổ là việc một quốc gia xác lập chủ quyền của mình đối với một vùng lãnh thổ mới, hay nói cách khác, mở rộng lãnh thổ hiện của của mình, thêm một vùng lãnh thổ mới vào bản đồ lãnh thổ quốc gia của mình. Luật pháp quốc tế về thụ đắc lãnh thổ là một ngành luật sớm xuất hiện và có vai trò quan trọng. Các quy định về thủ đắc lãnh thổ giúp giải quyết câu hỏi làm thế nào một quốc gia có thể xác lập chủ quyền đối với một vùng lãnh thổ mới một cách hợp pháp chống lại các yêu sách của các quốc gia khác. Qua lịch sử phát triển, có vẻ không có bất kỳ quốc gia nào không có biến động về lãnh thổ, và ngành luật quốc tế này sẽ hợp pháp hóa hoặc bất hợp pháp hóa các biến động này. 

Một điểm sơ bộ khác cần chú ý về các phương thức thụ đắc là chúng chỉ hoàn toàn phù hợp khi quyền sở hữu lãnh thổ không chắc chắn. Chẳng hạn, Quần đảo Shetland đã là một phần của Vương quốc Anh từ rất lâu đến nỗi tất cả các quốc gia đều công nhận chúng là một phần của Vương quốc Anh và không ai bận tâm hỏi Vương quốc Anh lần đầu tiên có được nó như thế nào.11 

Theo quan điểm truyền thống là có một số chế độ riêng biệt mà chủ quyền có thể có được trên lãnh thổ. Việc phân loại các chế độ này ban đầu được vay mượn từ các quy tắc của pháp luật La Mã về việc mua lại tài sản, điều này không đáng ngạc nhiên vì chủ quyền đối với lãnh thổ mang một số điểm tương đồng với quyền sở hữu tài sản; và trong thế kỷ mười sáu và mười bảy, khi luật pháp quốc tế hiện đại bắt đầu phát triển, các lý thuyết hiện hành về chế độ quân chủ tuyệt đối có xu hướng coi một lãnh thổ nhà nước là tài sản riêng của quốc vương . Nhưng có một số cách mà việc sử dụng các khái niệm luật tư nhân này tạo ra một cái nhìn lệch lạc về luật pháp quốc tế hiện đại. Cụ thể, nó giả định rằng việc chuyển nhượng lãnh thổ diễn ra giữa các quốc gia đã tồn tại, giống như việc chuyển nhượng tài sản diễn ra giữa các cá nhân đã tồn tại. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, hình thức chuyển nhượng lãnh thổ thường xuyên nhất (chính xác hơn là: chuyển giao chủ quyền đối với lãnh thổ) đã xảy ra khi một thuộc địa trở nên độc lập, vì lãnh thổ là một thành phần thiết yếu của chế độ nhà nước, sự ra đời của nhà nước và chuyển giao lãnh thổ không thể tách rời thành một bang là lãnh thổ của nó. 

Hiện nay, trên thế giới không còn lãnh thổ vô chủ nữa, vì vậy, các nguyên tắc, quy phạm pháp luật xác lập chủ quyền lãnh thổ chủ yếu được sử dụng để phân xử các trường hợp tranh chấp lãnh thổ, để chứng minh hay làm cơ sở chứng minh các quyền của quốc gia đối với lãnh thổ tranh chấp. Vì vậy nghiên cứu về các nguyên tắc thiết lập chủ quyền lãnh thổ, các phương thức thụ đắc lãnh thổ vẫn mang tính cấp thiết. Luật pháp quốc tế cho phép bốn cách thức thụ đắc lãnh thổ chính: (1) chuyển nhượng, (2) sự hình thành lãnh thổ mới, (3) chiếm hữu, và (4) chiếm hữu theo thời hiệu. Trước đây, luật pháp quốc tế còn cho phép cách thức thứ năm là (5) sử dụng vũ lực/xâm lược. 

1.2 PHƯƠNG THỨC THỤ ĐẮC LÃNH THỔ BẰNG CHIẾM HỮU (OCCUPATION) 

1.2.1 Định nghĩa: 

Phương thức thụ đắc bằng chiếm hữu là hành động của một quốc gia thiết lập và thực hiện quyền lực của mình trên một lãnh thổ vốn chưa thuộc chủ quyền của bất kỳ một quốc gia nào khác hoặc một vùng lãnh thổ vốn đã có chủ sau đó bị bỏ rơi và trở lại trạng thái vô chủ ban đầu. 

Chiếm hữu được đề cập đến trong định nghĩa này không phải là sự chiếm đóng trong chiến tranh hay chiếm đóng quân sự trong thời bình vì cả 2 hành động chiếm đóng đó đều không đem lại sự thụ đắc lãnh thổ do đối tượng chiếm đóng là lãnh thổ của quốc gia khác. Còn “chiếm hữu” trong định nghĩa trên có đối tượng là một lãnh thổ vô chủ hoặc có địa vị pháp lý như lãnh thổ vô chủ như vùng đất đã bị người chủ bỏ rơi không thuộc chủ quyền của bất cứ quốc gia nào. 

1.2.2 Chủ thể thụ đắc lãnh thổ bằng chiếm hữu: 

Việc chiếm hữu lãnh thổ phải là hành động nhân danh quốc gia, được quốc gia uỷ quyền, không phải là hành động của tư nhân. Quyền phát hiện cũng như chiếm hữu là một sự đòi hỏi đồng thời hai điều kiện: Corpus (yếu tố vật chất) và animus (yếu tố tinh thần) và chúng phải được thực hiện bởi nhà nước. rong vài trường hợp, khi cả hai bên tranh chấp lãnh thổ đều không có bằng chứng về việc thực hiện chủ quyền thì vai trò hoạt động của các cá nhân cũng có giá trị nhất định mặc dù cá nhân không có quyền hạn đích thực trong việc xác lập chủ quyền lãnh thổ. 

1.2.3. Đối tượng của phương thức thụ đắc lãnh thổ bằng chiếm hữu:

Như đã được nêu trong định nghĩa, đối tượng của phương thức thụ đắc lãnh thổ bằng chiếm hữu là lãnh thổ vô chủ (Terra Nullius) hoặc lãnh thổ bị bỏ rơi (Terra derelict ta) không thuộc chủ quyền của bất cứ quốc gia nào.

Một trong những nội dung của phương thức thụ đắc lãnh thổ bằng chiếm hữu phải là những lãnh thổ vô chủ, không nằm trong hệ thống địa lý, chính trị – hành chính của bất kỳ quốc gia nào. Nội dung này cũng là yêu cầu của các hình thức chiếm hữu bằng sắc lệnh của đức Giáo hoàng, chiếm hữu bằng cách phát hiện, chiếm hữu tượng trưng đã từng có trong lịch sử. 

Lãnh thổ vô chủ (terra nullius) là lãnh thổ chưa từng đặt dưới sự quản trị của quốc gia nhất định nào. Nói một cách khác, lãnh thổ đó chưa có một tổ chức quốc gia, có thể có cư dân sống trong vùng lãnh thổ đó nhưng chưa có một tổ chức nhà nước nào trên đó. Sự chiếm hữu lãnh thổ vô chủ là một hình thức thụ đắc hợp pháp. Trong luật pháp và thực tiễn quốc tế, khái niệm “lãnh thổ bị bỏ rơi” là vùng lãnh thổ trước kia đã từng được chiếm hữu và trở thành lãnh thổ của một quốc gia, nhưng sau đó quốc gia chiếm hữu tự từ bỏ chủ quyền của mình đối với vùng lãnh thổ này. Đa số các luật gia quốc tế cũng cho rằng muốn kết luận một vùng lãnh thổ bị bỏ rơi cần hội tụ đủ hai yếu tố: 

– Quốc gia chiếm hữu đã chấm dứt trên thực tế mọi hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước đối với lãnh thổ; 

– Quốc gia chiếm hữu không có biểu hiện muốn khôi phục lại chủ quyền đối với lãnh thổ đó. 

Ngày nay, các luật gia tiến bộ đều cho rằng việc giành chủ quyền trên một lãnh thổ có cư dân phải dựa trên nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết, một nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế hiện đại. Theo nguyên tắc này, mọi sự thay đổi lãnh thổ và tất cả hình thức giành chủ quyền đều phải dựa trên ý chí của cư dân sinh sống trên lãnh thổ đó, bởi lẽ: Sự phù hợp giữa quyền tối cao về lãnh thổ với ý chí chủ quyền của nhân dân là cơ sở pháp lý cao nhất để giải quyết tranh chấp những lãnh thổ đã được chiếm hữu từ lâu. 

1.2.4. Quá trình hình thành và phát triển của phương thức thụ đắc lãnh thổ bằng chiếm hữu. 

a. Trước thế kỷ XV: 

Vấn đề tranh chấp lãnh thổ thường chỉ diễn ra theo quy luật mạnh được yếu thua. Đó là thời kỳ mà trên những vùng đất vô chủ (Terra nullius) sự phát kiến dẫn tới sự thụ đắc lãnh thổ. Thời gian này, vấn đề tranh chấp lãnh thổ thường chỉ diễn ra trong từng khu vực, và chưa xuất hiện những nguyên tắc pháp luật về xác lập chủ quyền lãnh thổ được thừa nhận rộng rãi. 

b. Thời kỳ thế kỷ XV và đầu thế kỷ XVI : 

Thế kỷ XV được mệnh danh là thời kỳ của những phát kiến địa lý vĩ đại (mở đầu là sự kiện Crixtop Colomb – 1492 tìm ra Châu Mỹ). Các phát kiến đó đã tạo nên điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các quốc gia phát kiến dẫn tới việc thiết lập chủ quyền trên những vùng lãnh thổ mới được phát hiện. Hình thức thiết lập chủ quyền lãnh thổ bằng chiếm hữu đã hình thành và phát triển cùng với sự bắt đầu bành trướng của Châu Âu ra các châu lục khác. Do sự phát triển giao lưu thương mại và những tiến bộ về hàng hải đã dẫn tới sự hình thành các cường quốc hàng hải. Các cường quốc này bành trướng như vũ bão trên biển. Trước hết phải kể đến Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đã đi tiên phong trong việc phát hiện ra những vùng đất mới. 

Trong thế kỷ XV và đầu thế kỷ XVI, chủ quyền đối với lãnh thổ mới “phát hiện” được xác định theo các sắc lệnh của Giáo hoàng Alexander VI về phân chia các vùng lãnh thổ mới “phát hiện” ngoài Châu Âu giữa hai quốc gia đứng đầu hai dòng đạo Thiên chúa là Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Theo sắc lệnh này, tất cả các vùng lãnh thổ bao gồm “tất cả các đảo và đất liền đã tìm thấy và sẽ tìm thấy, đã phát hiện và sẽ phát hiện” ở phía Đông một đường tưởng tượng chạy từ địa cực này sang địa cực khác qua phía Tây đảo Cap Vert 100 liên là thuộc Bồ Đào Nha, còn các vùng lãnh thổ ở phía Tây là thuộc Tây Ban Nha. Theo Hiệp ước Tordesillas do Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha trực tiếp thương lượng và ký kết với nhau ngày 7/6/1494 và được Giáo Hoàng Jules II xác nhận năm 1506 thì con đường tưởng tượng đó được dịch về phía Tây thêm 370 liên13 

c. Thời kỳ thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XIX: Thời kỳ phát hiện và chiếm hữu tượng trưng. 

Từ thế kỷ XVI, các nước đã phải tìm ra những nguyên tắc về thiết lập chủ quyền trên những vùng lãnh thổ mà họ “phát hiện”. Thuyết “quyền ưu tiên chiếm hữu” dành cho quốc gia đã phát hiện ra vùng lãnh thổ đó đầu tiên, gọi tắt là thuyết quyền phát hiện. 

Thời kỳ “Chiếm hữu tượng trưng”: 

Trên thực tế, việc phát hiện chưa bao giờ tự nó đem lại cho quốc gia phát hiện chủ quyền lãnh thổ vì rất khó xác định thế nào là phát hiện, xác nhận việc phát hiện và xác định giá trị pháp lý của việc phát hiện ra một vùng lãnh thổ mới. Sau đó các luật gia đã vận dụng quyền sở hữu tài sản trong luật cổ La Mã vào lĩnh vực chủ quyền, vì vậy, việc phát hiện đã mau chóng được bổ sung bằng việc chiếm hữu trên danh nghĩa, nghĩa là quốc gia phát hiện ra một vùng lãnh thổ phải để lại dấu vết của mình trên vùng lãnh thổ mà họ phát hiện, ví dụ như phải đặt một bia chủ quyền, một mốc chủ quyền hoặc một dấu hiệu quốc gia có giá trị tượng trưng hoặc có thể thực hiện nghi lễ tượng trưng, thông báo cho các quốc gia khác biết thì mới có chủ quyền lãnh thổ. Thời kỳ này luật quốc tế công nhận các hành vi tượng trưng của việc sáp nhập lãnh thổ do quốc gia phát hiện ra thực hiện như là danh nghĩa nguyên thuỷ của việc chiếm hữu. Thuyết này là thuyết quyền chiếm hữu tượng trưng được áp dụng từ thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XIX. 

d. Thời kỳ sau Hội nghị Berlin (1885) – Thời kỳ “chiếm hữu thật sự 

Các luật gia ngày càng nhận thức rõ ràng việc phát hiện, kể cả việc phát hiện có để lại dấu vết trên một vùng lãnh thổ chỉ đem lại cho quốc gia phát hiện một danh nghĩa phôi thai, tạm thời, chưa hoàn chỉnh. Danh nghĩa “phôi thai” này, về bản chất chưa được hoàn thiện, cuối cùng sẽ biến mất trừ trường hợp nó được hoàn thiện sau đó bởi sự chiếm hữu và quản lý hành chính thật sự lãnh thổ được phát hiện trong một khoảng thời gian hợp lý. Chủ quyền muốn được xác lập và được công nhận thì phải là thật sự có hiệu quả tức là đòi hỏi sự có mặt thực tế của quốc gia chiếm hữu trên vùng lãnh thổ đó. 

Quan điểm này ngày càng chiếm ưu thế và sau Hội nghị Berlin về Châu Phi năm 1885 của 13 nước Châu Âu và Hoa Kỳ, sau khoá họp của Viện Pháp luật quốc tế ở Lausanne năm 1888 thì trở thành một trong những nguyên tắc của luật pháp quốc tế gọi là nguyên tắc chiếm hữu thật sự. 

Định ước Berlin ký ngày 26/2/1885 xác định nội dung của nguyên tắc chiếm hữu thật sự và quy định “các điều kiện chủ yếu phải đáp ứng khiến cho những hành động chiếm hữu mới ở vùng duyên hải lục địa châu Phi được coi là thật sự”. Theo đó, việc chiếm hữu là thực sự nếu thỏa mãn hai điều kiện: 

– Việc chiếm hữu chủ quyền lãnh thổ mới của bất kỳ quốc gia nào ở Châu Phi cũng phải được thông báo cho các nước tham gia hội nghị. 

– Các nước chiếm hữu phải đảm bảo có sự hiện diện của tổ chức chính quyền tại chỗ để thi hành pháp luật và có thể khi cần thiết bảo đảm các quyền lợi về tự do buôn bán, tự do quá cảnh trong các điều kiện được quy định. 

(Điều 34 và 35 của Định ước Berlin ký ngày 26/2/1885) 

Định ước Berlin, tuy chỉ giải quyết vấn đề Châu Phi, và chỉ ràng buộc 14 quốc gia tham gia ký kết. Nhưng hai điều trên đã được luật pháp quốc tế chấp nhận làm cơ sở cho việc công nhận chủ quyền quốc gia trên một lãnh thổ nhất định. Nghĩa là: 

– Có sự thông báo về việc chiếm hữu cho các nước ký Định ước. 

– Phải “duy trì trên những vùng lãnh thổ mà họ chiếm hữu sự tồn tại của một quyền lực đủ để khiến cho các quyền mà mình đã giành được được tôn trọng…”. 

Sau đó, với sự phát triển của Luật pháp quốc tế, nguyên tắc thật sự nói trong Định ước Berlin, vốn chỉ có giá trị đối với các vùng duyên hải lục địa Châu Phi và chỉ có giá trị đối với các quốc gia ký Định ước hoặc sau đó tham gia Định ước, trở thành một nguyên tắc có giá trị phổ biến của luật pháp quốc tế, có thể áp dụng cho mọi vùng lãnh thổ. 

Trong điều kiện toàn bộ lãnh thổ thế giới được phân chia xong giữa các nước đế quốc chủ nghĩa, Công ước Saint Germain ngày 10/9/1919 tuyên bố huỷ bỏ Định ước Berlin năm 1885 với lý do là trên thế giới không còn có vùng lãnh thổ vô chủ nữa, từ nay Định ước không còn ràng buộc các quốc gia thành viên của Công ước Saint Germain nữa. Tuy vậy, ngay trong Công ước Saint Germain vẫn có Điều 10 còn mang dấu ấn rõ rệt của Định ước Berlin năm 1885: “các cường quốc ký kết công ước thừa nhận nghĩa vụ phải duy trì trong những vùng thuộc quyền mình sự tồn tại của một quyền lực và các phương tiện cảnh sát để đảm bảo việc bảo vệ người và tài sản trong trường hợp cần thiết, việc tự do buôn bán và quá cảnh”

Như vậy là trên văn kiện chính thức thì nguyên tắc thật sự không còn giá trị nữa. Việc đặt ra và huỷ bỏ các nguyên tắc thật sự đều do các cường quốc đế quốc thông qua xuất phát từ những quyền lợi riêng của các nước đế quốc trong việc tranh giành các lãnh thổ vô chủ hoặc lạc hậu. Nhưng so tính hợp lý của nguyên tắc đó mà sau khi có Công ước Saint Germain, các luật gia trên thế giới vẫn vận dụng nó trong lĩnh vực học thuật cũng như khi giải quyết các vụ tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trong đó có rất nhiều vụ tranh chấp chủ quyền trên các hải đảo. 

Mặc dù Định ước Berlin chỉ có một giá trị tương đối về thời gian và không gian: nó chỉ liên quan đến bờ biển Châu Phi vì đó là mục đích Hội nghị, và mặt khác, nó lại bị điều I của Công ước Saint Germain (10/9/1919) huỷ bỏ. Nhưng trên những nét lớn, nguyên tắc thật sự được thể hiện trong Định ước vẫn có thể áp dụng vào tất cả các vùng lãnh thổ vô chủ và cho phép rút ra một số yếu tố về giải pháp cho vụ quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. 

Có thể nhận xét khái quát quá trình phát triển của luật pháp quốc tế về xác lập chủ quyền lãnh thổ bằng phương thức chiếm hữu như sau: 

Sự khám phá ở thế kỷ XV được tiếp theo bằng sự khẳng định công khai về chủ quyền vào thế kỷ XVIII, đã cung cấp một danh nghĩa sơ khai và đến thế kỷ XIX, đã được hoàn chỉnh bằng việc chiếm hữu thật sự. 

2. Nguyên tắc chiếm hữu thực sự trong luật quốc tế: 

Nguyên tắc thật sự ra đời với Định ước Berlin năm 1885. Từ đó đã được áp dụng để giải quyết nhiều vụ tranh chấp quốc tế về chủ quyền lãnh thổ, như các vụ: đảo Palmas năm 1928 giữa Hoa Kỳ và Hà Lan (1928); Vụ đảo Clipperton giữa Mexico và Pháp (1931), vụ Đông Greenland (1933) giữa Na Uy và Đan Mạch, vụ Minquiers và Ecréhous (1953) giữa Anh và Pháp. 

Charles Rousseau, giáo viên trường Đại học Luật Paris, uỷ viên Viện pháp luật quốc tế viết: “nguyên tắc thật sự chủ yếu được dùng để chứng minh một trật tự đã được thiết lập. Được tập quán trọng tài thừa nhận trước năm 1885” “được khẳng định lại trong luật pháp quốc tế cả trong lĩnh vực trọng tài cũng như lĩnh vực xét xử”, “nguyên tắc thật sự cũng được luật pháp quốc tế chấp nhận như một yếu tố chủ yếu của chủ quyền mà người ta yêu sách đối với các lãnh thổ vô chủ”14 

Qua thực tiễn quốc tế giải quyết tranh chấp lãnh thổ, và các công trình nghiên cứu bổ sung của nhiều luật gia có thể rút ra nội dung chính của nguyên tắc thật sự là: 

– Chủ thể của việc thiết lập chủ quyền trên một vùng lãnh thổ phải là một quốc gia. Một cá nhân không có quyền thiết lập chủ quyền trên một vùng lãnh thổ, dù cho vùng lãnh thổ đó vô chủ vì cá nhân không phải là chủ thể của luật quốc tế, không thể có chủ quyền, không có thẩm quyền về mặt quan hệ quốc tế là quan hệ giữa các quốc gia. 

– Sự chiếm hữu phải được tiến hành một cách hoà bình trên một vùng lãnh thổ thật sự là vô chủ hoặc đã được người chủ chủ động bỏ rơi hoặc mặc nhiên từ bỏ. 

– Quốc gia chiếm hữu phải thực hiện trên thực tế các hành động chủ quyền ở mức độ tối thiểu phù hợp với các điều kiện tự nhiên và dân cư trên vùng lãnh thổ đó. 

– Tính liên tục của sự thực hiện các hành động chủ quyền trên vùng lãnh thổ đó. – Không có sự phản đối của nước khác. 

Bên cạnh đó, sự Xác lập chủ quyền lãnh thổ bằng chiếm hữu chỉ có giá trị pháp lý khi nó đáp ứng những điều kiện cơ bản sau đây: 

Vùng đất, đảo bị chiếm hữu phải là một lãnh thổ vô chủ, không nằm hoặc không còn nằm trong hệ thống địa lý hành chính của một quốc gia nào. 

Vùng đất, đảo đó có thể có hoặc không có người ở. Nhưng khái niệm vô chủ có nghĩa là vùng đất, đảo có không nằm trong hệ thống địa lý hành chính của bất cứ nước nào, hoặc tuy đã từng thuộc về một quốc gia nhưng quốc gia này đã từ bỏ vả không có ý định tiếp tục thực hiện chủ quyền của mình ở đó. Vùng đất, đảo như thế được coi là vô chủ và có thể trở thành đối tượng chiếm hữu của bất kỳ quốc gia nào.

Ví dụ như, đảo Saint Martin ở gần Guadeloupe thuộc Trung Mỹ do Tây Ban Nha chiếm hữu từ giữa thế kỷ XVII . Nhưng vì không có khả năng tổ chức quản lý, họ đã quyết định từ bỏ quyền chiếm hữu đảo, rút khỏi đảo sau khi đã phá hủy mọi thiết bị và công trình xây dựng. Đảo lại trở thành vô chủ. Người Pháp, người Hà Lan cùng một lúc đến chiếm đảo và tuyên bố thiết lập chủ quyền của nước họ. Cuộc tranh chấp đã được giải quyết như sau: nửa đảo nơi người Pháp đã đổ bộ lên thuộc chủ quyền của Pháp, còn nửa kia thuộc về Hà Lan. 

Qua thực tiễn trên ta thấy, việc phát hiện ra một vùng đất, đảo có thể giữ vai trò quan trọng đối với việc chiếm hữu vùng đất đảo đó nếu nó là vô chủ, nhưng sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu nó đã được một quốc gia khác chiếm hữu. Mặt khác, nguyên tắc chiếm hữu thực sự đòi hỏi phải có sự kiểm soát và quản lý trên thực tế vùng lãnh thổ đã chiếm hữu. Vì vậy, phát hiện ra một vùng đất mới mới chỉ là mầm mống của quyền đối với vùng đất đó, và quyền có tính chất mầm mống ấy có thể mất đi nếu nó không được củng cố bằng những hành động tích cực khác để thiết lập sự chiếm hữu thực sự. Tuy nhiên, yếu tố phát hiện trong quá khứ vẫn có thể được sử dụng khi cần thiết phải chứng minh nguồn gốc của việc thiết lập chủ quyền. 

Việc chiếm hữu phải là hành động của nhà nước 

Việc chiếm hữu một vùng lãnh thổ phải là một hành động có tính chất nhà nước, nghĩa là được thực hiện bởi những viên chức đại diện cho nhà nước hoặc những người được nhà nước ủy quyền, thì mới có giá trị pháp lý. Hành động của những người mang tư cách cá nhân, hoặc của những tập thể, tổ chức tư nhân đều không có giá trị pháp lý để xác định chủ quyền lãnh thổ. Tuy nhiên trong một số trường hợp, các hành động của tư nhân với danh nghĩa công dân của một quốc gia, dù chưa được nhà nước đó chứng nhận, cũng có thể có một ý nghĩa nhất định. Như khi giải quyết tranh chấp lãnh thổ, những hành động này sẽ là chứng cứ có lợi cho một quốc gia nếu phía bên kia không có một hành động có ý nghĩa pháp lý nào được thực hiện. 

Việc chiếm hữu phải là thực sự, rõ ràng. 

Trước đây, một số luật gia cho rằng, để thiết lập sự quản lý và kiểm soát một vùng lãnh thổ thì không thể thiếu việc tổ chức dân cư. Ngày nay, với những vùng lãnh thổ không có dân cư việc kiểm soát có thể được tiến hành bằng các phương tiện kỹ thuật, do đó việc tổ chức dân cư không còn là biện pháp duy nhất. Luật pháp quốc tế đòi hỏi việc thực hiện các chức năng nhà nước trên vùng lãnh thổ chiếm hữu phải mang tính liên tục, bởi vì việc đình chỉ một hoạt động như vậy trong một khoảng thời gian tương đối dài mà không khôi phục lại nó có thể được hiểu là sự từ bỏ vùng lãnh thổ này và không có ý định tiếp tục thực hiện chủ quyền ở đó. Tuy nhiên, yêu cầu thực hiện các chức năng nhà nước một cách thường xuyên, liên tục không có nghĩa là phải có tính định kỳ thật đều đặn. Như vậy đối với những vùng lãnh thổ khó đi đến, tính liên tục của việc thực hiện chủ quyền không có ý nghĩa tuyệt đối mà phụ thuộc vào mức độ cần thiết và khả năng đi đến vùng lãnh thổ đã chiếm hữu đó. 

Tính hòa bình của sự chiếm hữu, việc chiếm hữu phải được dư luận đương thời chấp nhận: 

Yêu cầu về tính hòa bình của sự chiếm hữu có nghĩa là sự chiếm hữu không được là sự tước đoạt quyền của một quốc gia khác bằng vũ lực hay bằng hoạt động lén lút, việc chiếm hữu phải công khai và được dư luận đương thời chấp nhận. 

Ngày nay, người ta thường dùng hình thức tuyên bố hoặc thông báo bằng các phương tiện thông tin đại chúng để công khai hóa các sự kiện. Nhưng đối với các sự kiện xảy ra trong quá khứ khi quan hệ quốc tế chưa phát triển rộng rãi, việc công khai hóa các sự kiện chỉ bằng hình thức gián tiếp hoặc tay đôi, thì khi xem xét việc một nước đã chiếm hữu và thực hiện chủ quyền đối với một vùng lãnh thổ, người ta chỉ chú ý đến việc lãnh thổ này trước đó đã thuộc chủ quyền của một nước nào chưa? Sự chiếm hữu ấy có bị nước nào chống lại không và dư luận đương thời đã chấp nhận hay phủ nhận chủ quyền đối với vùng đất ấy?. Trên cơ sở đó, đánh giá cơ sở pháp lý của chủ quyền nước đó đối với vùng lãnh thổ. 

Một số luận cứ khác cũng được đưa ra để biện minh quyền chiếm hữu đối với một vùng đất, nhưng đã bị luật pháp và tập quán quốc tế cũng như thực tế lịch sử bác bỏ. 

Trước khi nguyên tắc chiếm hữu thực sự có vị trí vững chắc trong luật pháp quốc tế, có lúc các nguyên tắc kế cận địa lý và liên tục lãnh thổ đã được đưa ra để vận dụng. 

Việc xác định chủ quyền lãnh thổ theo nguyên tắc kế cận địa lý hoặc liên tục lãnh thổ vì không có ranh giới rõ ràng nên đã làm nảy sinh nhiều tranh chấp. Đến khi sự kiểm soát của các quốc gia đối với lãnh thổ của mình được tăng cường, chủ quyền lãnh thổ được xác định trên những vùng lãnh thổ có đường biên giới quốc gia được định hình rõ ràng thì nguyên tắc kế cận địa lý và liên tục lãnh thổ đã bị bác bỏ và nhường chỗ cho nguyên tắc chiếm hữu thực sự. 

Công ước về Luật Biển của Liên hợp quốc năm 1982 đã thừa nhận các quyền thuộc chủ quyền của nước ven biển đối với thềm lục địa là phần kéo dài tự nhiên của đất liền của nước đó ra biển, như thế có nghĩa là Công ước đã chấp nhận nguyên tắc liên tục của lãnh thổ. Tất nhiên, sự liên tục lãnh thổ là nguồn gốc của những lợi ích kinh tế, chính trị, chiến lược và các lợi ích khác của quốc gia có thể dẫn tới việc quốc gia thiết lập chủ quyền đối với vùng lãnh thổ đó phù hợp với luật pháp quốc tế. Tuy nhiên điều này cũng chỉ có giá trị đối với một vùng lãnh thổ ngập nước chưa được luật pháp quốc tế xác định tính chất chủ quyền lãnh thổ tức là còn vô chủ, chứ không thể áp dụng đối với các đảo và vùng lãnh thổ ngập nước đã được luật pháp quốc tế xác định tính chất chủ quyền lãnh thổ từ lâu. 

Chủ quyền lãnh thổ được thu hẹp hay mở rộng chỉ phụ thuộc vào sức mạnh. Thực chất đây cũng chỉ là một biến tướng của thuyết “không gian sinh tồn” đã nói ở trên với một cái vỏ khác mà thôi. Đây là một luận điệu vô cùng nguy hiểm, biện hộ cho chiến tranh xâm lược, lắp ngòi nổ cho các cuộc chiến tranh liên miên, đe dọa sự ổn định và hòa bình của khu vực và của thế giới. 

CHƯƠNG III: Áp dụng nguyên tắc chiếm hữu thực sự trong việc xác lập chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam:

Chiếm hữu là cách thức thụ đắc lãnh thổ mà Việt Nam đã hợp pháp thụ đắc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong khi Trung Quốc hoàn toàn dửng dưng với quần đảo Hoàng Sa thậm chí đến cuối thế kỷ XIX, và cả Trường Sa, thì Việt Nam có bằng chứng lịch sử cho thấy là quốc gia đầu tiên chiếm hữu hiệu đối với hai quần đảo này từ thế kỷ XVII thông qua hoạt động của đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải và các hoạt động thực thi chủ quyền sau này của nhà Nguyễn. 

Căn cứ vào các nội dung của nguyên tắc chiếm hữu thực sự theo Định ước Berlin 1885 và Tuyên bố của Viện Pháp Luật Quốc tế Lausanne năm 1888 cùng với các nguyên tắc trong Nghị quyết 2625 của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, các quy định của Công ước Luật biển năm 1982, áp dụng đối với trường hợp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, từ đầu thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX, theo tập quán pháp lý phương Tây lúc bấy giờ, sự xác lập chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo này là một sự thật thể hiện bằng các hành động cụ thể về sự quản lý, chỉ đạo của các Nhà nước Việt Nam đương thời một cách nhất quán, liên tục, hoà bình phù hợp với pháp lý quốc tế bấy giờ. Sau đó, chủ quyền của Việt Nam tiếp tục được khẳng định dựa trên các cơ sở pháp lý quốc tế có giá trị phổ biến, Hiến chương Liên hiệp quốc và Công ước về Luật Biển 1982 mà các thành viên ký kết đều phải tôn trọng. Các bằng chứng lịch sử mà Việt Nam đã thu thập được rất phong phú, mặc dù do hoàn cảnh chiến tranh liên tục nên nhiều thư tịch cổ của Việt Nam đã bị mất mát, thất lạc. Tuy nhiên, những tư liệu còn lại đến nay và chính sử vẫn đủ để khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. 

Đỉnh cao nhất của việc tuyên bố và xác lập chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là vào năm 1816 khi vua Gia Long sai quân lính ra quần đảo Hoàng Sa cắm cờ Việt Nam và tuyên bố chủ quyền. Không chỉ vậy, các chúa Nguyễn cũng như nhà Nguyễn sau này đều có nhiều hành động liên tục cử người ra cai quản, khai thác các đảo trên cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhà nước phong kiến

Việt Nam đã tổ chức các đội Hoàng Sa, Bắc Hải để thực thi quyền chủ quyền và khai thác hai quần đảo. 

Năm 1951, tại Hội nghị San Francisco (Hoa Kỳ), khi có một đề nghị bổ sung bản dự thảo Hòa ước yêu cầu trao trả cho Trung Quốc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng Hội nghị đã bác bỏ đề nghị này với số phiếu áp đảo là 46 phiếu thuận, 3 phiếu chống và 1 phiếu trắng. Tại Hội nghị, Ngoại trưởng Trần Văn Hữu dẫn đầu phái đoàn 

Chính phủ Quốc gia Việt Nam đã tuyên bố khẳng định chủ quyền lâu đời của người Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà không gặp sự phản đối hay bảo lưu của nước nào.15 

Dưới ánh sáng của pháp luật quốc tế, đặc biệt là nguyên tắc chiếm hữu thực sự Việt Nam có đầy đủ chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền lâu đời và liên tục của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa – hai quần đảo thiêng liêng của Tổ quốc. 

Sau khi nước Việt Nam được thống nhất, nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã nhiều lần khẳng định chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Năm 1982, Việt Nam đã lập huyện Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng nay trực thuộc thành phố Đà Nẵng (từ năm 1996) và huyện Trường Sa thuộc tỉnh Phú Khánh nay thuộc Khánh Hòa (từ năm 1989). Thực tiễn pháp lý đã khẳng định nguyên tắc chiếm hữu thực sự là một trong những nguyên tắc rất nền tảng trong vấn đề xác lập chủ quyền lãnh thổ. Đối với Việt Nam cũng như các nước khác trong khu vực Biển Đông, đối diện với một thực tế tranh chấp lãnh thổ trong vùng biển này, việc căn cứ vào các quy định trong các văn bản pháp lý quốc tế cũng như những nguyên tắc cơ bản về chủ quyền lãnh thổ, như nguyên tắc chiếm hữu thực sự là hết sức cần thiết nhằm bảo đảm xác định chủ quyền một cách hợp pháp, đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của các quốc gia liên quan, góp phần giữ gìn hòa bình, an ninh khu vực và trên thế giới.


TỔNG ĐÀI LUẬT SƯ 1900 0191 - GIẢI ĐÁP PHÁP LUẬT TRỰC TUYẾN MIỄN PHÍ MỌI LÚC MỌI NƠI
Tài liệu trên là tài sản của Công ty Luật LVN, chỉ được sử dụng để tham khảo, việc tự áp dụng trong mọi trường hợp sẽ dẫn đến hậu quả không mong muốn.
Để có được lời khuyên pháp lý an toàn nhất, vui lòng liên hệ Luật sư (Miễn phí 24/7) số: 1900.0191 để gặp Luật sư, Chuyên viên tư vấn pháp luật.

Bộ phận tư vấn pháp luật

1900.0191